Tự
tôn dân tộc - tự tôn chủng tộc.
Người Tàu rất tự tôn, không riêng ở cái tên Trung Quốc tự xưng,
mà còn vì thói quen hay tự nhận là "người đầu tiên" sáng chế ra
nhiều thứ (dù có phần nào sự thật). Tính tự tôn này đôi khi cũng
thể hiện trong lãnh vực khoa học. Một số khoa học gia Trung Quốc
muốn chứng minh đất Trung Hoa là nơi phát sinh ra giống dân Á
châu, và văn minh tộc Hán là văn minh trung tâm thế giới. Họ cố
tình che dấu, giảm thiểu, hay vơ chung vào văn minh tộc Hán
những nền văn minh rực rỡ cổ xưa tìm thấy trên đất Trung Hoa
nhưng không thuộc vùng ảnh hưởng Hán tộc. Điển hình là trường
hợp văn minh Sanxingdui phía bắc Thành Đô (Chengdu, thuộc tỉnhTứ
Xuyên), phía nam thượng lưu sông Dương tử. Năm 1986, một nhóm
thợ lò gạch tình cờ tìm được một hố tế lễ chứa đầy đồ đồng, vàng
và ngọc thạch. Khi đoàn khảo cổ Tứ Xuyên đến đó khai quật, họ
tìm ra hố thứ hai. Tổng số đồ vật trên 800 món, với nhiều thức
tuyệt xảo bằng đồng, kích thước to, trong đó có tượng người cao
bằng người thật (1.72 m), nhiều đầu người và mặt nạ bằng đồng.
Đây là tượng đồng to nhất tìm thấy ở Trung Hoa. Tượng có mắt to
và xếch, mũi lớn, lông mày rậm dày và miệng thật rộng, rõ ràng
không phải chân dung tiêu biểu người Hán. Hơn nữa nền văn minh
đời Thương, là văn minh cổ nhất của Tàu, không hề có đồ đồng
mang dạng người. Trung Hoa xem đó là cổ vật thuộc nhóm dân Ba-
Thục, và xếp chúng vào thời đại cuối thời Thương.
Một nhóm khảo cổ Hoa Nhật khám phá ra thêm một thứ đền "kim tự
tháp" ở Longma, phía tây- nam Thành Đô, có cùng những đường nét
văn hóa. Đền này nằm tại trung tâm thành cổ, trong khi đền thờ,
nơi tế lễ cổ và thuần Trung Quốc (Hán) đều nằm ngoài vòng thành.
Các nhà khảo cổ Nhật ước tính tuổi cho nền văn minh này là 3000
đến 4700 năm về trước. Khám phá này được công bố ở Kyoto, Nhật
vào tháng 10 năm 1996, hình ảnh được đăng trên những báo lớn và
sau đó trong những sách, báo Anh và Pháp ngữ, trong khi báo
Trung Hoa không hề đăng, và rất ít thường dân Tàu biết đến tin
này. Trên thực tế, Trung Hoa không muốn chấp nhận sự hiện diện
một nền văn minh khác, rực rỡ và xưa hơn văn minh Hán tộc vốn dĩ
được xem là văn minh gốc của cả nước.
Vào nửa đầu thế kỷ 20, các nhà khảo cổ Ấu châu đặc biệt chú
trọng đến việc khai quật các di tích tiền sử ở những nước thuộc
địa. Nhưng vì dựa vào mô hình các giai đoạn phát triển kĩ thuật
ở châu Ấu để nghiên cứu các dữ kiện khảo cổ nên họ đã đưa đến
những kết luận nhuộm màu ưu / duy chủng tộc trong chiều hướng
tôn cao văn minh dân da trắng. Nhà khoa học Áo Heine-Geldern nổi
tiếng về thuyết thiên di ở Đông Nam Á, đã cố sức chứng minh văn
hoá Đông Sơn bắt nguồn từ văn hoá phương tây người Kimmer, hay
người Tokhara (tức người Nhục Chi) từ vùng Hắc Hải thiên di đến
(thật ra người Tokhara chỉ đến vùng nam Tây Bá Lợi Á). Mansuy,
người Pháp đã phát giác ra các di vật ở Bắc Sơn (vùng Cao Bằng
Lạng Sơn),- theo Hà Văn Tấn- đã "gắn sự xuất hiện của kĩ thuật
mài đá trong văn hoá Bắc Sơn với yếu tố tộc người da trắng có
nguồn gốc phương Tây." Nhà tiền sử học Mĩ Movius xem sự kiện
trường tồn của đồ đá đặc thù Á Châu "Choppers/Chopping-tools" là
biểu hiện tính chất kém phát triển của văn hoá Đông phương so
với Tây phương cùng thời. Coedès, hàn lâm viện sĩ Pháp, từng là
Giám đốc Viện Viễn Đông Bác Cổ danh tiếng, cũng cho rằng cư dân
bản địa Đông Dương vốn thiếu óc sáng tạo, ít khả năng tiến hoá
và khó tiến bộ nếu không có sự đóng góp của bên ngoài.
Nói thẳng ra, tất cả các nhà khảo cứu này cho rằng cư dân Đông
phương cổ mọi rợ, không văn minh bằng cư dân Tây phương cổ. Vô
tình hay hữu ý, các nhà khoa học thời đó đưa ra những lí lẽ biện
minh cho chính sách thuộc địa mà kết luận đưa ra là dân Tây
phương (có bổn phận) đem ánh sáng văn minh đến cho những dân tộc
bán khai địa phương. Đó là tính tự cao chủng tộc của người da
trắng.
Nhưng Đông Nam Á thời tiền sử có
thật sự kém văn minh như người ta tưởng
không?
Ngày nay đa số khoa học gia công nhận rằng không thể áp dụng mô
hình các giai đoạn kĩ thuật ở Ấu Châu để định tuổi cho dụng cụ
đá tại Đông Nam Á, và qua đó định tuổi các nền văn hoá Đông Nam
Á, là vùng có khí hậu và môi trường sống hoàn toàn khác. Dụng cụ
chặt đẽo choppers sở dĩ không thay đổi trong một thời gian dài
là vì người Đông Nam Á thời đó đã biết dùng tre, gỗ chế biến
thành dụng cụ cần thiết cho đời sống hằng ngàỵ. Nhưng người ta
không tìm ra được các thứ vật dụng này vì chúng đã bị tiêu huỷ
trong môi trường Đông Nam Á nóng ẩm ; và chính công cụ đá đã
được sử dụng trong việc chế tạo tre, gỗ thành đồ dùng. Đó là mô
hinh gỗ / mộc , tức "lignic" model, hay bamboo-karst model.
Người ta có thể khẳng định như thế nhờ những phương pháp tiếp
cận khảo cổ học mới sau này (dựa vào kinh tế học, sinh thái học
và xã hội học). Một trong các bằng chứng thực tiễn là cuộc sống
của bộ lạc nhỏ Tasaday trên đảo Mindanao (Phi luật Tân). Dân bộ
lạc này vẫn còn sống theo kinh tế săn bắt-hái lượm như người
"thời đồ đá", nhưng họ hầu như không có (vì không cần) công cụ
làm bằng đá.
Dân tiền sử Đông Nam Á sống thiên về hái lượm cây, trái, đào củ
và săn, bắt, bẫy các loài thú nhỏ hơn là thú lớn như dân xứ lạnh
Ấu châu (bò rừng, tuần lộc...), nên không cần dùng khí giới lao,
cung với lưỡi ngọn lao, mũi tên làm bằng đá đẽo. Họ săn heo
rừng, khỉ, nai, nhím, chim... bằng cung nỏ với tên tre chuốc
nhọn hay bằng ống thổi (blow-pipe) với mũi tên (là) gân lá tẩm
thuốc độc, như dân các bộ lạc miền núi Việt Nam và trong rừng
Indonesia ngày nay. Trong vùng nhiệt đới nóng ẩm, rừng nhiều cây
lá, nếu cần che thân, sử dụng vỏ cây hay lá cây thì mát mẻ, dễ
chịu và tiện lợi hơn da thú ; và vì không cần da thú nên họ
không cần công cụ đá để nạo da thú như người tiền sử Ấu châu; họ
bắt cá, săn thú, xẻ thịt, với các cạm bẫy, dao chế biến từ tre,
lá, như thổ dân trên đảo Mentawai xứ Indonesia ngày nay. Nói
chung những bộ lạc miền nhiệt đới chưa "văn minh" hiện nay vẫn
chế tạo rất nhiều đồ dùng từ tre, mây, gỗ, lá. Đó là dấu vết
kinh nghiệm cư dân cổ bản địa truyền lại.
Các hình vẽ thú, cảnh đi săn, trên vách nhiều hang động Ấu Châu
thời tiền sử (peintures rupestres), cho biết thịt là món ăn
chính của người tiền sử tại đây. Trong khi đó, người cổ Hoà Bình
ăn nhiều sò ốc, bằng chứng là vỏ các loài ốc núi và ốc nước ngọt
tìm thấy trong những đống rác bếp trong hang động trên mười ngàn
năm trước (ở vùng Hoà Bình và vịnh Hạ Long); cũng như sau đó
người sống dọc bờ biển từ vịnh đến bắc Trung Phần đều vẫn ăn sò,
điệp biển và để lại hàng đống vỏ lớn. Cư dân Bắc Việt cổ đã ăn
ốc từ 15 000 năm trước (và bây giờ ta vẫn ăn), điều này không
thấy trong di tích người tiền sử Ấu châu.
Sau những phát hiện khảo cổ chấn động thế giới vào thập niên 60
tại Thái Lan, Malaysia, Indonesia, một số nhà tiền sử học đã đặt
lại vấn đề tiền sử Đông Nam Á. Solheim II, giáo sư Đại học
Hawaii, viết một loạt bài từ năm 1967 về sự ra đời sớm của việc
trồng trọt, làm gốm, đóng thuyền, đúc đồ đồng thau... Solheim đã
đi ngược lại các luận điểm của Heine-Geldern (nguồn gốc từ người
Tokhara, Kimmer) về cuộc thiên di của người Nam Đảo
(Austronesian) và nguồn gốc văn hoá Đông Sơn. Theo Solheim, đóng
góp của văn hoá cư dân Đông Nam Á vào văn hoá Bắc Trung Quốc
thật quan trọng ; ông đưa thuyết mạng lưới buôn bán đường biển
liên đảo, gọi là mạng Nusantao, ở khắp vùng Thái bình Dương từ
Nhật xuống đến các đảo phía nam từ trên mười ngàn năm trước.
Những nhà hàng hải Nusantao này là cư dân vùng thềm Sunda phía
đông Indonesia và nam Phi luật Tân, đã buộc lòng phải dùng đường
biển khi mực nước dâng cao làm ngập đất họ sống. Tuy nhiên, Hà
văn Tấn cho rằng luận điểm của Solheim chưa có hay không có cơ
sở vững chắc, với nhiều điểm "phi lý, hỗn loạn" và dễ bị chủ
nghĩa dân tộc hẹp hòi lợi dụng.
Sau Solheim, một số nhà khảo cổ học khác như Meacham ở Hong
Kong, Higham ở Tân Tây Lan, Pookajorn ở Thái Lan đều đồng ý là
vùng Đông Nam Á, từ Thái Lan xuống Indonesia qua bán đảo Đông
Dương, là cái nôi của văn minh Nam Á (Austroasiatic)- Nam Đảo
(Austronesian). Và mới đây, Oppenheimer còn đi xa hơn nữa, khi
đưa ra thuyết rằng văn minh Đông Nam Á là cội nguồn của văn minh
phương tây, rằng khi cư dân thềm Sunda di tản tránh biển dâng,
họ đã đến vùng Lưỡng Hà - Trung Đông, mang theo kinh nghiện
trồng trọt, làm đồ gồm và ... sự tích Đại hồng thủy.
Bác sĩ Oppenheimer, nhà thám hiểm
nhà nghiên cứu, người bạn các dân tộc Đông Nam Á.
Oppenheimer tốt nghiệp bác sĩ Đại học Oxford bên Anh năm 1971.
Năm 1972 ông sang vùng Viễn Đông hành nghề tại nhiều bịnh viện
trong vùng, mà độc đáo nhất là khi ông làm "bác sĩ bay"
(flying-doctor) ở Borneo. Ở vùng này gần hai mươi năm, ông du
hành và nghiên cứu về nhân học khắp Đông Nam Á lục địa (kể cả
Việt Nam) và các đảo Thái bình Dương. Ông không ngại nguy hiểm,
lặn lội nơi thâm sâu cùng cốc, tìm đến những bộ lạc còn giữ ngôn
ngữ xưa hay cổ tích truyền khẩu... Trong sách nói trên có vài
bức ảnh do tác giả chụp. Có một ảnh nhà sàn với hàng chữ : nhà
sàn thành phố không đất Sitankai (cất trên bải san hô ngầm) giữa
biển Sulu, tác giả chú thích rằng người tiếp viên trên tàu
(ship's steward) ở góc phải hình đã cứu tác giả và ý trung nhân
của ông thoát khỏi tay lính Phi. Ông kể giai thoại đó như sau:
Lần đó ông cùng ý trung nhân người Tàu đi du lịch, và gặp hai
người Tây phương tại nam Phi Luật Tân. Hai người này khuyên đôi
tình nhân trẻ đi "fun trip" bằng tàu trên vùng biển Sulu đầy đảo
nhỏ phía nam Mindanao (Philippins)-bắc Borneo. Họ nghe theo, đáp
một tàu lớn chuyên chở hành khách địa phương lẫn hàng hoá qua
các hải đảo Sulu. Đến mỗi làng, tàu thả người xuống, và cho
khuân lên những bao hải sâm (sea cucumber) món hàng đắt tiền rất
được các nhà hàng ăn ở Hong Kong ưa chuộng. Tàu được một nhóm
lính vũ trang đi theo bảo vệ chống hải tặc trong vùng. Một lần,
đám lính ấy nhậu say, toan "dòm ngó" cô vợ sắp cưới của ông. Khi
tình trạng đến hồi nguy hiểm thì thuỷ thủ đoàn đến kịp lúc, đưa
hai người lánh lên boong trên, cứu họ thoát nạn. Nhờ giai thoại
này độc giả biết thêm một phần đời tư tác giả, một người yêu
Đông Nam Á và yêu người Đông Nam Á (cô ấy sống ở Nam Trung Hoa,
có lẽ thuộc chủng Nam Mongolic, như các dân Đông Nam Á khác).
Đầu thập niên 80 ông chuyển qua ngành nhi khoa nhiệt đới, và làm
việc ở Madang, vùng phía bắc New Guinea (Tân Guy nê, đảo phía
bắc Úc Châu). Ông rất ngạc nhiên khi thấy quá nhiều trẻ mới sinh
bị thiếu máu (anaemic) mà không thiếu sắt (iron deficiency). Đem
mẩu máu lấy từ cuống rún trẻ về trường y khoa nhiệt đới ở
Liverpool (ở Anh) phân tích, ông nhận thấy trẻ sơ sinh thiếu máu
vì hồng huyết cầu hình dạng không bình thường, rất dễ vỡ trong
một "bịnh" di truyền gọi là a-thalassaemia (aT), do thiếu một
trong hai gene (di tố) tạo ra a (alpha) globin; alpha globin là
một trong bốn protein a,b,d,g ; (bệnh b- thalassemea do thiếu
gene b) hợp với phần tử heme chứa chất sắt tạo thành haemoglobin
(viết tắt HbA, F) nằm trong tế bào máu đỏ (hồng cầu).
Khi các genes này có "vấn đề", các Hb tạo nên (A, F) không theo
tỉ lệ bình thường hoặc cấu trúc bị biến dạng (HbS, HbC, HbE.)
khiến cho hồng cầu biến dạng, dễ vỡ. Thí dụ hồng cầu có hình
liềm (HbS) hoặc cầu tròn thay vì hình cầu lõm hai mặt. Tuỳ theo
mức độ các "vấn đề" là giảm, thiếu globins hay chuyển đổi các
thành phần nucleic acids tạo di tố, và tuỳ các đôi di tố tương
hợp hay dị hợp mà các hậu quả mất máu nặng nhẹ khác nhau. Tính
miễn nhiễm sốt rét là một hậu quả (tốt bất) ngờ của sự biến dạng
và dễ vỡ của hồng cầu.
Khi nghiên cứu kĩ sự phân bố trẻ sơ sinh aT trên đảo, ông thấy
trẻ có cha mẹ gốc vùng núi cao bên trong đảo ít bị sốt rét hơn
trẻ trong các làng vùng thấp, ven biển hay trên đảo nhỏ xung
quanh. Để biết rõ nguyên nhân, ông bỏ thì giờ đi thăm từng gia
đình các em bé được phân tích máu, hỏi gốc gác và tiếng nói của
họ. New Guinea là nơi có số ngôn ngữ cao nhất thế giới (750 thứ
tiếng) đa số là thổ ngữ Papua, các tiếng còn lại thuộc họ Nam
Đảo, tiếng nói người sống ven biển. Điểm nghịch lí là số trẻ aT
không phân bố theo gốc gác tiếng nói, mà phân bố theo độ cao nơi
gia đình sống. Những trẻ aT đều thuộc gia đình miền núi cao chưa
hề bị sốt rét. Nhờ lấy mẩu máu này ở New Guinea đem về Anh phân
tích gene mà ông thành ngườI đầu tiên khám phá ra sự liên hệ
giữa a-thalassaemia và sự phân bố bịnh sốt rét trong vùng New
Guinea ; kết quả này công bố trên báo The Lancet năm 1984.
Ông đi đến kết luận là những người không bị sốt rét nhờ hưởng
gene aT của ông cha tổ tiên, vì chỉ những người có gene đột biến
aT mới sống còn qua sự "tuyển lựa tự nhiên" của bịnh sốt rét.
Bịnh sốt rét là bịnh gây tử vong cao cho loài người: ngày nay
sốt rét vẫn làm chết người trên thế giới nhiều hơn các bịnh
khác. Trong bệnh này, các trùng Plasmodium vào người theo vết
cắn muỗi Anopheles, vào gan và hồng huyết cầu kí sinh để tiếp
tục sinh sôi tăng trưởng. Oppenheimer khám phá ra là trùng sốt
rét Plasmodium falciparum không tấn công được hồng huyết cầu aT,
và trùng này bị chận không lan tràn được trong cơ thể người bị
muỗi nhiễm trùng cắn. Đây là một kết quả quan trọng, nhất là cho
dân Đông Nam Á ( hay bị sốt rét và bị "thiếu máu"-anemia- do
thalassaemia), được công bố trên báo khoa học hàng đầu thế giới
(Nature) năm 1997.. Những đợt đột biến đưa đến sự tuyển chọn
gene kháng sốt rét thay đổi tùy nơi, nên cùng là aT mà di tố đột
biến ở Việt Nam và ở New Guinea chẳng hạn, không giống nhau, gây
ra hiện tượng "thiếu máu" anemia nặng hay nhẹ tùy theo di tố
truyền lại cho dân đó. Căn cứ theo bản đồ những vùng có di tố
"chống sốt rét" và nhiều dữ kiện văn hoá phong tục khác, ông suy
ra rằng dân Đông Nam Á đã di cư đến Trung Đông (dân Trung Đông
cũng hay bị thalassaemia) và lập văn minh cổ Ur và Ai cập.
Khi nghiên cứu về sốt rét, Oppenheimer để ý thấy vùng phân bố
các nhóm dân New Guinea có liên hệ đến huyền thoại-cổ tích :
những bộ lạc nói tiếng khác nhau nhưng có cùng cổ tích truyền
khẩu thì có cùng di tố. Thế là ngoài nghiên cứu y khoa, ông còn
tìm hiểu sâu về dân Á châu, về cổ tích, tiền sử, ngôn ngữ, tập
quán của họ.
Từ những kiến thức đa dạng này, ông có một số ý niệm về sự hình
thành của hai nhóm dân chính Đông Nam Á, là dân nói tiếng Nam Á
(Austroasian) và dân nói tiếng Nam Đảo (Austronesian). Để tiếp
tục công trình, ông làm giáo sư nhi khoa tại Đại Học Hongkong từ
1990 đến 1994; ông nghiên cứu về những đường thiên di đưa người
nói tiếng Nam Đảo đi chiếm lĩnh các hải đảo trên một vùng biển
rộng lớn, trải từ Madagascar ở bờ tây Ần độ dương đến đảo Hawaii
và đảo Phục Sinh ( Iles de Pâques) phía đông Thái Bình dương.
Trở về giảng dạy ở Đại học Oxford sau khi rời Hongkong, ông
không ngừng tìm hiểu về hai giống dân Nam Á- Nam Đảo mà ông đã
từng chung sống trong hai mươi năm. Tình cảm đặc biệt của ông
đối với dân và đất Đông Nam Á đã thể hiện qua cuốn sách "Địa
đàng ở phương Đông".
"Địa đàng ở phương Đông"
Như Nguyễn văn Tuấn đã nhận xét, cuốn sách này tập trung những
dữ kiện nhiều mặt, cũ mới, về vùng Đông Nam Á. Ông NVT đã lược
qua đầy đủ những điểm chính của sách, nên tôi không trở lại.
Nói chung, Oppenheimer tổng hợp các tài liệu trong đó có kết quả
nghiên cứu của chính mình bao gồm y khoa, ngôn ngữ, nhân chủng,
xã hội học để đưa ra một thuyết hoàn toàn mới mẻ về nguồn gốc
một số dân tộc và văn minh Á châu cũng như thế giới.
Điểm độc đáo chính là sự kết hợp nhiều bộ môn nói trên, cổ điển
và hiện đại, khoa học chính xác và khoa học nhân văn. Trong kết
hợp này, các huyền thoại, cổ tích truyền khẩu giữ vai trò đặc
biệt.
Việc sử dụng các truyền thuyết có một sức thuyết phục nào đó,
thí dụ khi ta thấy quả thật Việt Nam, ngoài một số tập tục, cũng
có những cổ tích và huyền thoại truyền miệng khá giống những
vùng xa phía nam như New Guinea.
Tích Sơn Tinh Thuỷ Tinh, Trầu Cau của ta nói về hai người cùng
yêu, tranh chấp một cô gái với một số
khúc mắc éo le tương tự như tích Kulabob và Manup của các bộ lạc
trên những hòn đảo nam Thái bình Dương. Theo Oppenheimer, chuyện
tích này rất dài, nhiều tình tiết, ở vùng đảo ấy người ta kể cả
ngày; thỉnh thoảng phải ngưng kể để... ăn trầu.
Kulabob trong tích vùng New Guinea được xem là thuỷ tổ dân nói
tiếng Nam Đảo. Manup là anh ; còn người em Kulabob, đôn hậu,
giỏi giang, đã sáng chế ra thuật xâm mình, chế tàu đi biển và
Kulabob lái tàu đánh cá rất điêu luyện.... Một hôm đi săn,
Kulabob bắn lạc một mũi tên khắc chạm tinh vi. Lúc đi tìm mũi
tên, Kulabob bị chị dâu (vợ Manup) "dụ dỗ", quyến rũ.
Cô này dấu mũi tên và nằn nì Kulabob xâm một hình đẹp trên chỗ
kín của mình. Kulabob không muốn nhưng cuối cùng đã xiêu lòng
chìu ý chị dâu. Trong một dạng chuyện kể, hai người đã ái ân với
nhau lúc đó. Khi người anh khám phá ra chuyện ngoại tình này, đi
tìm giết em mình. Hai anh em đánh nhau dữ dội bằng đủ cách, kể
cả pháp thuật, nhưng bất phân thắng bại. Cuối cùng để tránh
huynh đệ tương tàn, Kulabob làm một chiếc tàu to bỏ đi về hướng
biển cả, chở theo người, cây, thú vật và đồ đạc, từ đó lập thành
các nhóm dân hải đảo Thái bình Dương.
Oppenheimer xem tích Kulabob này là cổ tích gốc của tất cả các
dân liên hệ huyết thống đến giống dân Nam Đảo, vi có rất nhiều
dạng kể khác nhau trong vùng đảo. Theo ông, chuyện cổ Cain/ Abel
ở Cận Đông và Adonis/Attis/ Osiris ở Ai Cập được ghi lại sau đó
bắt nguồn từ tích Kulabob, cũng như truyền thuyết đại hồng thủy
ghi lại thành thiên trường ca Gilgamesh xứ Ur cổ xưa bắt nguồn
từ một tích gốc Nam Đảo và do thảm kịch nước biển dâng ngập đại
lục thềm Sunda mà ra. Từ các chuyện cổ và từ những chi tiết như
dấu xâm mình, mắt xếch trên tượng Ur cổ, Oppenheimer kết luận là
nền văn minh Lưỡng Hà và Ai Cập đã bắt nguồn từ văn hoá Nam Đảo
nông nghiệp. Sự phân chia ngôi thứ xã hội, tổ chức chính trị,
tín ngưỡng, phù phép (magic) đều do những người sống trên thềm
Sunda mang đến Trung Đông bằng đường biển khi Sundaland bị nhận
chìm dưới nước.
Thuyết về nguồn gốc xưa của văn minh Đông Nam Á và đường thiên
di người Nam Đảo nói chung rất "quyến rủ", có mạch lạc, giá trị,
nhưng không thể khẳng định vì chưa có những phương pháp định
"tuổi" các truyền thuyết, cho phép xếp chúng theo thứ tự trước
sau, thêm vào đó những chứng minh về ảnh hưởng Nam Đảo trên hai
nền văn minh cổ sáng chói này theo tôi không đủ sức thuyết phục.
Bởi vì vùng Cận Đông là vùng có người hiện- đại H. sapiens sống
từ rất lâu (-100 000 năm ). Những người ở đấy cũng lập nên làng
xã từ gần 10 000 năm nay, từ Turkey đến Israel, và từ lâu đã
sống bằng nghề canh nông (lúa mạch, lúa mì), chăn nuôi (dê, cừu,
bò...). Cái nôi các giống lúa mạch, lúa mì, dê, cừu, bò. thuần
dưỡng của cả nhân loại chính là ở nơi đó. Tuy nghề làm đồ gốm ở
đấy có niên đại sau đồ gốm Jomon bên Nhật (khoảng -10 000 năm ),
nhưng các kĩ thuật khác (đi ngựa, làm xe, làm đồ vật bằng đồng
thau, bằng sắt ) được biết rất sớm. Ngày nay người sống trong
vùng này giống người Ấu hơn người Á Châu. Giả thuyết của
Oppenheimer sẽ thuyết phục hơn nếu có thêm những bằng chứng
khác.
Những điểm có thể gây ngộ nhận
trong bài N. V. Tuấn.
Tôi muốn bàn đến một số điểm trong bài của N..V. Tuấn dễ gây ngộ
nhận, có thể đưa đến nhận định không chính xác về nguồn gốc dân
tộc Việt Nam.
1- Thuyết "Bắc tiến" (của người cổ Việt Nam), theo kết quả mới
về nghiên cứu di truyền?
Quả có "Bắc tiến" cách đây trên 50 000 năm, từ vùng Đông Nam Á
lên Trung Hoa. Tuy nhiên, ở đây phải hiểu theo hiện tượng thiên
di người cổ nói chung. Mới đây, nhiều phòng thí nghiệm trên thế
giới hợp tác nhau để so sánh genes người ở vùng Đông Á châu và
đã đưa ra một kết luận quan trọng đăng trên hai bài báo (xem tác
giả Chu, Su, phần sách tham khảo) : người cổ thuộc giống người
hiện- đại (sapiens) đến từ Phi châu, ghé vùng Đông Dương trước,
rồi từ đó thiên di lên phía bắc đến nam Trung Hoa, và sau đó hợp
chủng với người Altaic (từ Trung Á đến sau qua đường thiên di
bắc Á châu) thành dân "mới hơn" sống ở đông Siberia -Tây Bá Lợi
Á.
Dĩ nhiên trên đường thiên di đầu tiên từ Phi châu xuống phía
nam, tổ tiên dân Á Đông đã ghé bán đảo Ần Độ trước khi đến Đông
Nam Á, nên người Ần Độ không thể "có gốc gác Đông Nam Á" được
như Nguyễn Văn Tuấn đề nghị. Ần Độ sau đó đã đón nhận rất nhiều
luồng thiên di khác, trong đó có cả chủng da trắng aryen đến từ
phía tây bắc. Oppenheimer có đưa ra ý kiến là một trong những
chủng sống ở đông bắc Ần Độ, chủng Munda nói tiếng thuộc họ Nam
Á như người Việt và dân Đông Nam Á lục địa, là di dân Nam Á đến
từ phía đông (là Thái Lan, nơi có vết tích lúa xưa) vào thời
tiền sử, mang theo kĩ thuật trồng lúa.
Oppenheimer có thể có lí về điểm này, nhưng ông không hề nói dân
Ần nói chung có gốc gác ở Đông Nam Á. Nhóm dân rất cổ tại Ần Độ
là Dravidians (hiện còn người kế thừa ở nam Ần) gần với tổ tiên
Phi châu, nhưng cũng đã lai với các chủng đến sau. Chỉ có thổ
dân các hòn đảo đông Ần Độ (Nicobar...) còn nhiều nét của tổ
tiên đến từ Phi châu là cổ hơn cả, vì họ ít gặp di dân khác để
lai giống.
Chúng ta biết rằng càng gần gốc Phi châu, các di tố càng đa
dạng. Genes của dân Đông Nam Á đa dạng hơn genes những dân phía
đông bắc Á châu, nghĩa là dân Đông Nam Á gần tổ tiên Phi châu
hơn Đông Bắc Á. Cần nói thêm là kết luận của bài Chu & Su (xem
sách tham khảo) được rút ra từ kết quả mới về phân tích genes
các giống dân thiểu số tại nam Trung Hoa (kết hợp với kết quả
phân tích genes khác như thổ dân Đài Loan v..v..); genes "Đông
Nam Á" là genes (một) người Kampuchia, còn genes người Việt Nam
không có trong những genes nghiên cứu !. Trung Hoa đã đóng góp
nhiều vào kết quả này qua chương trình "Chinese Human Genome
Diversity Project".
Kết luận tương tự thật ra đã được Ballinger rút ra ở di truyền
học từ 1992 (xem phần sách tham khảo). Ba mươi năm trước, Bình
Nguyên Lộc cũng đề nghị là người cổ Việt Nam (ông gọi là "Mã Lai
đợt I, hay Lạc bộ Trãi") đã từ phía nam tiến lên làm chủ phía
bắc Trung Hoa, nhưng sau đó bị giống dân phía bắc (lai dân Nhục
Chi) đẩy lùi trở xuống. Kết quả phân tích genes của các nhóm
Chu/ Su cho biết nói chung dân Đông Nam Á gần "tổ" Phi châu,
nhưng không đủ chi tiết để cho biết những sự lai giống trước sau
nào đã đưa đến các giống dân khác nhau hiện nay. Tất cả các dân
tộc trên thế giới ngày nay đều đã lai "giống" (ít) nhiều dù tất
cả đều cùng gốc tổ Phi Châu, vì người hiện- đại đã không ngừng
thiên di từ lúc sinh ra hơn trăm ngàn năm trước tại Phi Châu.
2- Có phải Người Hoà Bình tràn lan về phía nam (Indonesia ?) ,
lên hướng bắc (Trung Hoa ?) và sang hướng tây (Thái Lan ?).
Văn hoá Hòa Bình (với giai đoạn muộn từ 7000 đến 12000 năm trước
đây) được bà Colani, nhà khảo cổ Pháp, khai quật, nghiên cứu và
đề xuất ra vào cuối những năm 1920. Văn hoá này có những đặc
trưng về dụng cụ đá cuội (pebble) ghè trên một hay hai mặt thành
chopping tools và về nơi cư dân sống : hang động đá vôi. Cho đến
nay người ta chưa có bằng chứng trực tiếp về sự nảy sinh nông
nghiệp trong văn hoá Hoà Bình ở Việt Nam, mặc dù có những bằng
chứng gián tiếp, như môi trường, sự khủng hoảng về cách tìm thức
ăn, sự xuất hiện của rìu đá mài. Danh từ "Hoà Bình" ngày nay
được các nhà khảo cổ thế giới dùng trong khái niệm
techno-complex (phức hợp kĩ thuật) để chỉ những di tích khảo cổ
loại này. Nhiều hang động có di tích người tìm thấy ở Thái Lan
qua những thập niên gần đây được xếp vào techno-complex loại Hoà
Bình. Khi nghiên cứu phấn hoa trong tàng đất khảo cổ ở nhiều
hang, đặc biệt trong Spirit Cave tại Thái Lan, người ta nghĩ là
chủ nhân chúng đã bắt đầu trồng một số cây như trầu cau, bầu
bí.vào giai đoạn cuối của thời săn bắt-hái lượm. Theo thói quen
trong ngành, người ta dùng tên của nơi mà đặc trưng về di tích
khảo cổ được tìm thấy lần đầu -Hoà Bình- để chỉ di tích có đặc
trưng đó tìm được sau này, ngay cả khi chúng được tìm ra trong
vùng khác. "Người Hoà Bình" là những người thuộc văn hoá đặc
trưng tiền đá mới (pre-neolithic) này. Tôi nghĩ không phải dụng
cụ đá tìm được ở Úc Châu là từ Hoà Bình mà ra, vì tuổi di tích
Úc già hơn, bởi niên đại sớm nhất của văn hoá Hoà Bình, theo
khảo cổ học Việt Nam, là 18 ngàn năm trước (với rất ít di tích
trong khoảng thời gian từ đó đến 12 ngàn năm trước). Người sống
ở Hoà Bình khó lòng vượt mấy ngàn cây số để đến Úc từ 14 000 đến
20 000 năm trước. Theo tôi, chữ "người Hoà Bình" dùng cho các di
tích ở nơi khác không có nghiã là người ở Hoà Bình -Bắc Việt-
vào thời điểm đó (7 000 đến 12 000 năm trước) đã tràn lan đến
những nơi khác như Thái Lan, Indonesia, Úc, Trung Hoa.
Về văn hoá Hoà Bình, các nhà khảo cổ Việt Nam đã đóng góp rất
nhiều qua các công trình nghiên cứu quan trọng được công bố,
thiết tưởng không cần nói thêm. Độc giả nào muốn biết thêm về
việc có một hay nhiều văn hoá Hoà Bình, văn hoá hay phức hợp kĩ
thuật, có thể xem "Theo dấu các nền văn hoá cổ" của giáo sư Hà
văn Tấn.
3- Kĩ thuật làm đồ đồng thau (dụng cụ, vũ khí) của cư dân Đông
sơn có trình độ cao nhất nhì thế giới ?
Trình độ đúc đồng của cư dân Đông Sơn ( 700 năm trước công
nguyên đến sau công nguyên) quả rất cao, nhưng không thể nói là
cao hơn trình độ thợ các nơi khác, trong các nền văn minh có lâu
trước Đông Sơn. Điển hình là nền văn minh Sanxingdui nói trên,
xưa hơn Đông Sơn đến mấy ngàn năm. Nền văn minh bắc Trung Hoa
thời Thương (thiên kỷ thứ hai trước công nguyên) đã làm ra hàng
loạt đỉnh đồng to như trống Đông Sơn với nhiều khắc chạm độc
đáo. Còn đồ đồng tìm thấy ở Thái Lan tuy không to bằng nhưng xưa
hơn Đông Sơn khá nhiều (một ngàn năm ) và cũng có sắc thái
riêng. Đó là không kể đến những đồ đồng làm tại các đô thị văn
minh cổ ở Irak, vùng Cận Đông, Ai cập sớm hơn đồ đồng Đông Sơn
rất nhiều. Đồ đồng Đông Sơn có mặt trễ hơn đồ đồng của rất nhiều
nơi khác, tôi tự hỏi biết đâu cư dân Đông Sơn cũng đã có dịp học
hỏi thêm kĩ thuật đến từ những nơi gần Việt Nam. Kết quả khảo cổ
cho thấy cư dân Phùng Nguyên chỉ mới bắt đầu luyện đồng mà chưa
biết đúc vật dụng. Đến thời Đồng Đậu trên dưới 3000 năm trước
đây, đột nhiên cư dân sống ở đấy đúc được nhiều đồ kĩ thuật cao
như lưỡi giáo, mũi tên. Phải chăng có một (hay nhiều?) thời kì
cư dân bản địa được dịp tiếp xúc, gặp gỡ các kĩ thuật khác qua
những sứ giả, thương khách? Hay một lí do khác? (Tôi sẽ trở lại
về thay đổi này ở phần sau) Nghĩa là thợ Đông Sơn vào khoảng
2500 năm trước đã chứng minh khả năng sáng tạo kĩ thuật và mĩ
thuật, khi làm được một số lượng lớn trống to giá trị cao, dùng
trong lãnh vực thương mại, ngoại giao khắp cõi Đông Nam Á, nhưng
khả năng nội tại này không loại trừ việc kết hợp và ứng dụng các
đặc tính nhân bản là hiếu học, óc tò mò, ý muốn cách tân.
4- "Đồ gốm Việt Nam xuất khẩu khắp Đông Nam Á đến tận Melanesia,
trước khi có ảnh hưởng của Ần Độ" ?.
Tôi e rằng có nhầm lẫn về điểu này: Việt Nam cổ xuất khẩu trống
đồng chứ không xuất khẩu đồ gốm. Đồ gốm thời Phùng Nguyên, trước
Đông Sơn, có hoa văn độc đáo, sau đó được dùng trang trí đồ đồng
Đông Sơn.
Gốm Đông Nam Á nổi tiếng thế giới là gốm Lapita xưa 3500 năm,
tìm được ở nhiều đảo vùng nam Thái Bình Dương. Gốm Lapita nổi
tiếng không phải chỉ vì đẹp, mà còn vì dính dáng đến nguồn gốc
các thuyết thiên di của giống dân nói tiếng Nam Đảo. Đó là
thuyết "chuyến tàu nhanh" (express train) chở dân Nam Đảo đi từ
Đài Loan đến khắp vùng biển nam Thái Bình Dương của Bellwood, và
thuyết "hai chuyến tàu, nhanh và chậm" của Oppenheimer. Cả hai
đều không nhắc nhở đến gốm Phùng Nguyên.
Theo thuyết "chuyến tàu nhanh" của Bellwood, người nói tiếng Nam
Đảo từ Đài Loan dùng thuyền vượt biển đến chiếm lĩnh nhanh chóng
chuỗi đảo hoang trong vùng nam Thái bình Dương, liên tiếp đảo
này đến đảo kia trong vòng vài trăm năm ; họ mang theo đồ đạc,
kĩ thuật (làm gốm Lapita), thú nuôi, cây trồng, vào 3500 năm
trước đây. Còn Oppenheimer chủ trương rằng trước chuyến tàu
nhanh này, đã có "chuyến tàu chậm" "chở người tị nạn hồng thuỷ"
(ở thềm Sunda ), từ bắc Borneo đến vùng đảo Nam Thái Bình Dương
nói trên vào 9000 hay 10000 năm trước. Ở mỗi nơi họ ngừng lại
một thời gian, "lai giống" với người bản địa thuộc chủng
Australoid, họ sinh sống và sinh sôi trước khi lên đường tiếp
tục đi qua đảo khác.
Đồ gốm Á Châu nổi tiếng thế giới, gốm Jomon của cổ dân sống ở
bắc Nhật, là gốm sớm nhất thế giới (trên 10 000 năm trước), có
nét đẹp riêng biệt, không thể đến từ Hoà Bình, vì Hoà Bình là
văn hoá không có đồ gốm, hay có rất ít vào thời kì cuối ( Bắc
Sơn ). Nhưng người Nhật ngày nay là con cháu của người thuộc văn
hoá Yayoi, không có cùng genes với chủ nhân gốm Jomon nổi tiếng
này, cũng như người Thái hiện tại có gốc ở vùng Vân Nam chứ
không là hậu duệ trực tiếp của chủ nhân các văn hoá cổ trên năm
ngàn năm (Ban Chiang, Ban Kao.). Chủ nhân văn hoá Yayoi đến Nhật
chỉ vài trăm năm trước công nguyên, mang theo nghề trồng lúa, và
có khả năng là người U Việt di tản khi nước U Việt bị ngườI Hán
thôn tính (xem R. Shiba).
Tôi cũng không tin rằng hai nền văn hoá Yangshao và Longshan
(bắc Trung Hoa) đến từ Hoà Bình như N. V. T đã viết. Vùng Bắc
Trung Hoa hầu như không có dấu vết văn hoá Hoà Bình trong nghiã
"phức hợp kĩ thuật". Thật vậy, nền văn hoá Yangshao (5000 năm
trước) nổi tiếng với gốm vẽ hình màu đen trên nền gốm đỏ là văn
hóa gốc của tộc Hán ở Thiểm Tây (bắc Trung Hoa) vốn là những
người trồng kê, sống trong nhà thấp đào sâu dưới đất, và văn hoá
Longshan (tỉnh Sơn Đông) nổi tiếng về đồ gốm rất mỏng, màu đen
bóng (đưa đến nền văn hoá triều Thương), là những văn hoá đặc
thù, hoàn toàn khác với văn hoá sống trong nhà sàn, trồng lúa
nước, ở Bắc Việt.
5- "Quê hương của kĩ thuật trồng lúa là ở quanh vùng Đông Nam Á"
?
Ngay ông Oppenheimer cũng không dám khẳng định như thế. Khi nói
về vết tích hạt lúa theo ông cổ nhất thế giới ở Thái Lan,
Oppenheimer hai lần nhấn mạnh "nếu phần định tuổi này được xác
nhận là đúng". Thật vậy, nhà khảo cổ Thái Pookajorn, người khám
phá ra dấu vết lúa cổ trong gốm thời đồ đá mới, đã định tuổi
theo loại hình di vật tìm được trong các hang Sakai, Ban
Kao...vào giai đoạn nối tiếp văn hoá loại Hoà Bình (tìm thấy
trong lớp đất bên dưới), là khoảng 9260 - 7620 năm trước. Nhưng
theo nhiều nhà khảo cổ, đa số di tích, di vật tìm thấy ở Thái
Lan, khi định tuổi lại thì thấy "trẻ" hơn nhiều so với tuổi định
ban đầu.
Ngoài ra, so với Thái Lan, số chỗ có di tích lúa tìm thấy dọc
theo nam sông Dương tử không những nhiều hơn, mà còn rất xưa
hơn. Vết tích bữa cơm tiền sử nấu với gạo từ lúa mọc hoang xưa
nhất thế giới, -13 000 năm, được một nhóm khảo cổ Mỹ -Trung hoa
tìm thấy trong hang Diaotonghuan phía nam sông Dương tử (bắc
tỉnh Giang Tây). Cư dân sống trong vùng này đã biết thử nghiệm
các giống lúa và cách trồng trong thời gian dài tiếp theo đó.
Điều này đã được nhóm khảo cổ chứng minh qua sự tăng độ lớn
phytolith của lúa ( phần thực vật hoá thạch, tồn tại nhờ giàu
chất silica) lắng trong những lớp trầm tích theo thời gian. Tin
này đã được đăng trên báo khoa học hàng đầu thế giới Science,
năm 1998. Các nhà khoa học nghiên cứu về phytoliths- thạch thể
lúa - này đã chứng minh rằng từ 9000 năm trước dân cổ ở vùng đó
đã ăn nhiều gạo của lúa trồng hơn lúa hoang. Nhóm cư dân bản địa
này cũng bắt đầu làm đồ gốm thô xốp bằng đất trộn trấu. Kinh
nghiệm về trồng lúa tích tụ tại đấy trong mấy ngàn năm đã đưa
đến nghề trồng lúa trong toàn vùng nam Dương tử. Di tích xưa thứ
hai, chín ngàn năm trước (9000), là Pengtou, gần hồ Động Đình
phía nam sông Dương tử (Trường giang). Hơn bốn mươi chỗ có di
tích lúa cổ hàng ngàn năm đã được tìm thấy ở vùng nam Trường
giang. Gần cửa biển nam Trường giang, di tích văn hoá Hemudu cho
thấy văn minh lúa nước trong vùng lên đến trình độ rất cao vào
7000 năm trước (sớm hơn cả di tích làng trồng kê Banpo xưa nhất
của tộc Hán phương bắc).
Hemudu là một làng vài trăm người sống trên nhà sàn trong vùng
đầm lầy ở cửa sông Tiền Đường. Dân Hemudu đã trồng lúa, ăn cơm,
để lại lớp rơm và trấu dày 25- 50 cm (còn dính một số hạt lúa),
có nơi dày đến cả thước, trên diện tích 400 thước vuông. Có thể
đó là lớp "rác" để lại trên sân đập lúa. Di chỉ thực vật (củ ấu,
củ năng, táo.) và di cốt động vật hoang (hươu, trâu, tê giác,
cọp, voi, cá sấu...) cho thấy khí hậu vùng nam sông Dương tử bấy
giờ thuộc loại nhiệt đới, hoàn toàn thích hợp với việc canh tác
lúa nước.
Nền văn hoá Hemudu xưa bảy ngàn năm (7000) có nhiều điểm gần gũi
với văn hoá Phùng Nguyên- Đông Sơn vốn là những văn hoá trẻ/trễ
hơn nhiều (sau hơn 3000 năm). Cư dân vùng nam Trường giang lúc
ấy có lẽ gần với cư dân Bắc Việt về mặt chủng tộc và văn hoá hơn
cư dân bắc Trung Hoa. Khuôn mặt đắp từ sọ người Hemudu trưng bày
ở Viện Bảo tàng Hemudu cho thấy họ giống người thuộc chủng nam
Mongolic, tức là chủng của người Việt Nam từ thời Đông Sơn về
sau. Sau văn hoá Hemudu, hàng loạt văn hoá lúa nước khác đã sinh
ra dọc Trường giang khoảng 4000 năm trước (Liangzhu, Majiabin,
Quinshanyang, Qujialing, Daxi, Songze, Dadunze.).
6-Tổ tiên chúng ta đã phát triển và ứng dụng kĩ thuật trồng lúa,
hay tổ tiên chúng ta là thầy dạy người Hán trồng lúa nước?
Theo tôi, diều này đúng. nếu ta chấp nhận rằng cư dân trồng lúa
sống ở phía nam Trường giang(thuộc nhóm Bách Việt, theo sử Tàu )
là tổ tiên của dân Việt Đông Sơn hoặc là anh em ruột với tổ tiên
người Việt Đông Sơn, mà vì lí do nào đó tổ tiên này đã rời vùng
nam Trường Giang về trụ tại Đông Sơn. Vì người Hán đã học được
nghề trồng lúa với dân nam Trường giang (Nam Trung Hoa) trước
khi tiếp xúc thẳng với người Việt cổ ở Đông Sơn vào những năm
trước công nguyên. Và các kết quả về di truyền lẫn hình dáng sọ
cho thấy là các bộ tộc Nam Trường giang khác với chủng gốc bắc
Trung Hoa. Trong các dân đã "dạy" người Hán trồng lúa, phải kể
đến dân U Việt . Mà dân U Việt vùng Cối Kê lại là con cháu của
cư dân trồng lúa lâu đời tại Hemudu.
Ngoài ra, tuy người Việt Đông Sơn đã biết trồng lúa, nhưng di
tích lúa tìm được ở Việt Nam không xưa như di tích lúa ở Thái
Lan, và không thể nào xưa hơn di tích lúa vùng nam Trường giang.
Di tích xưa nhất là những hạt gạo cháy thành than tìm thấy trong
văn hoá Đồng Đậu ở châu thổ sông Hồng, nằm trong trấu trộn với
đất làm đồ gốm, không quá 3500 năm trước. Do đó, tôi xem vùng
nam Trường Giang mới thật là quê hương đầu tiên của lúa, không
như Oppenheimer, ông xem Thái Lan là quê hương của lúa nhưng
Oppenheimer (xin lập lại lần nữa ) cũng lưu ý là thời điểm có
lúa cổ ở Thái Lan cần được xác quyết.
7- "Trước khi tiếp xúc với người Hán, tổ tiên chúng ta có một
nền văn minh rất cao, nếu không muốn nói là cao nhất Đông Nam Á
"?
Thế nào là văn hoá "cao nhất" Đông Nam Á, và Đông Nam Á nào, có
kể luôn vùng đất rộng lớn Sundaland bị biển dâng làm chìm ngập
không ?
Ta có thể nói văn hoá Việt Nam vào thiên kỷ một trước công
nguyên có bản sắc riêng, không "thua kém" ai, và được lưu truyền
từ cư dân cổ hơn sống trong cùng vùng, chứ không phải ngoại
nhập. Điều này đã được các nhà khảo cổ Việt Nam chứng minh rõ
ràng qua tính liên tục của các nền văn hoá nối tiếp nhau trên
vùng Bắc Việt.
Nếu tính rằng Việt Nam có "bốn ngàn năm văn hiến" với truyền
thuyết các vua Hùng ở Bắc Việt thì có thể xem giai đoạn Văn Lang
tương ứng với nhiều nền văn hoá liên tục từ Phùng Nguyên đến
Đông Sơn. Văn hoá Đông Sơn cũng là nền văn hoá độc lập cuối cùng
trước khi ngườI Hán chiếm Bắc Việt Nam và đô hộ một ngàn năm.
Văn hoá Đông Sơn tuy nổi tiếng về trống đồng to đẹp, từng được
mua bán trao đổi đến tận Mã Lai, Indonesia, nhưng lại là một văn
hoá nằm trong thời kì đồ sắt, tức là thời nằm sau thời đồng thau
trong quá trình tiến triển văn minh các nơi trên thế giới theo
thứ tự trước sau là : đồ đá cũ, đồ đá mới (đá mài), đồ đồng
thau, đồ sắt. Nghĩa là cư dân ấy vẫn còn quá "lưu luyến" đến đồ
đồng thau (vì tuy đã biết nhưng không chú ý nhiều đến đồ sắt ?!
). Đồ sắt có những điểm trội hơn đồ đồng trên phương diện kinh
tế và quân sự : sắt cứng chắc, kiếm sắt chặt gãy kiếm đồng, và
tên sắt xuyên qua áo giáp đồng. Thời Đông Sơn quả có sản xuất
nhiều đồ đồng thau chạm trổ tinh vi : vũ khí (dao găm, qua, giáp
che ngực, lưỡi lao...) và cả lưỡi rìu, lưỡi cày (tuy lưỡi cày
sắt đã xuất hiện). Người Hán chính nhờ phát triển mạnh kĩ thuật
đồ sắt vào thời Chiến Quốc nên đã thắng các nhóm dân giáp ranh
phía nam còn mãi bám vào đồ đồng thau, như nước U Việt ba trăm
năm trước công nguyên. Các di tích quân Tần ( ở Xi'an) cho thấy
họ mang khí giới và giáp sắt. Người Hán tiếp tục thanh toán các
nước Mân Việt, Ấu Việt, rồi... diệt luôn Ấu Lạc thời Đông Sơn !
Hay nói cách khác, nếu văn hóa ta xưa kia "cao nhất", mà lại bị
Hán đô hộ, ấy bởi ta "thua" họ về sức mạnh, kĩ thuật, kinh
nghiệm chinh chiến; nghĩa là ta không xem kĩ thuật, quân sự như
một thành tố của một nền văn hóa !
8-
"Đô thị cổ xưa nhất trong vùng là do tiền nhân chúng ta xây
dựng" ?
Đô thị cổ xưa nhất trong vùng? Tuỳ theo vùng xem xét có bao
gồm... cả nam Trung Hoa hay Ần Độ không. Thành Cổ Loa xưa nhất
Việt Nam xây vào thời An Dương Vương, hơn hai trăm năm trước
công nguyên. Về kiến trúc hiện nay không còn gì nhiều. Theo
truyền thuyết, thành xây hình trôn ốc, gồm 9 vòng, có hào nước
thông với sông Hoàng Giang nối với sông Cầu và sông Hồng. Hiện
nay chỉ còn những đoạn lẻ của ba vòng thành đất, với vòng lớn
nhất chu vi 9 km.
Trong khi đó, phía bắc vùng đất Loa thành là Trung Hoa, nước lớn
nhất thế giới vào thời đó. Vua Trung Hoa, Tần Thuỷ Hoàng Đế thu
phục được nhiều thành trì bằng đá (còn dấu vết đến ngày nay) khi
đánh bại những nước vùng bắc và trung nước Tàu. Tần Thuỷ Hoàng
còn cho xây Vạn Lý Trường Thành ngăn dân phía bắc xâm lấn. Xưa
hơn nữa, một ngàn năm trước đó, nhà Thương, nhà Ấn xây thành bảo
vệ các thủ đô vùng bắc Trung Hoa, và ở nam sông Dương tử nền văn
minh Sanxingdui cũng có thành trì rất xưa ở Tứ Xuyên, đến ngày
nay vẫn còn. Đó là chưa kể đến Persepolis, thủ đô cổ 3600 năm ở
Ba Tư (Iran), với thành quách bằng đá còn rất nhiều hình phù
điêu cũng như tài liệu viết bằng ba thứ tiếng khắc trên đất
nung. Cũng như các thành phố tối cổ có tường gạch dày với nhà
hai tầng có cả phòng tắm và hệ thống cống thoát nước, ở vùng Ần
hà (Mohenjo Daro và Harappa, Pakistan), tất cả đều trong Á châu.
Cổ Loa là một công trình lớn đối với dân Đông Sơn, nhưng không
so sánh được với Trung Hoa và Sanxingdui thời trước đó. Theo
Oppenheimer có thể cũng đã có thành quách xây trên thềm Sunda
hay thềm Nam Hải nhưng chưa ai nghiên cứu được vì ngày nay các
thềm này nằm dưới biển. Ông có đưa ra hình chụp những tảng đá to
hình bậc thang nằm dưới đáy biển phía đông Đài Loan, nhưng lại
nói các nhà khoa học chưa đồng ý với nhau là đá đó do thiên
nhiên bào mòn hay nhân tạo.
Như vậy, "cổ nhất vùng" hay không, Cổ Loa là di tích (duy nhất)
cho thấy ở Bắc Việt đã có một tập hợp dân đủ mạnh và đủ tài
nguyên, năng lực để xây một thành trì lớn. Số lượng lớn các mũi
tên đồng nhiều kiểu tìm thấy trong thành Cổ Loa là bằng chứng
thủ lãnh cư dân tại đấy đã tổ chức quân đội bảo vệ thành. Thế
nhưng Triệu Đà đã chiếm Loa thành và lên làm vua nước Nam Việt.
Mà Triệu Đà chỉ là viên tướng nhỏ nhiều tham vọng của Tần Thuỷ
Hoàng trong đạo quân mở bờ cõi phía nam Trung Hoa. Nhân dịp Tần
Thuỷ Hoàng chết và tướng Nhâm Ngao cầm đầu đạo quân này cũng
không còn nữa, Đà xưng vương ở Phiên Ngung, tức thị trấn Quảng
Đông (Canton) bây giờ. Truyền thuyết nói rằng Triệu Đà dùng mưu
phá nỏ thần giữ Loa thành nên chiếm được Ấu Lạc. Tiếc rằng nay
không còn bằng chứng gì về nỏ thần Loa thành, dù có nhiều cơ bẩm
nỏ đã được tìm thấy. Các cơ bẩm này tương tự như cơ bẩm nỏ cá
nhân quân Trung Hoa sử dụng dưới thời Tần Thủy Hoàng, không phải
là thứ nỏ có thể diệt hàng loạt địch quân như truyền thuyết để
lại. Vũ khí Trung Hoa có khả năng tiến bộ hơn Đông Sơn vì người
Trung Hoa đánh lẫn nhau liên miên trong thời Xuân Thu - Chiến
Quốc (gần trọn thiên kỷ I BC) trên một bình diện rộng lớn. Trong
lúc đó, sự tranh chấp quyền lực bằng vũ khí nếu có tại Bắc Việt
chỉ có thể xảy ra ở qui mô nhỏ hơn (mức độ bộ lạc hơn là một
quốc gia). Có lẽ vì vậy mà vũ khí thời Đông Sơn được chạm trỗ kĩ
lưỡng, như đồ dùng trong nghi lễ hơn là khí giới giết người
trong các trận chiến. Lại thêm một chi tiết về "sức mạnh kĩ
thuật" (hơn Việt) của tộc Hán !
Những điểm nêu trên không nhằm mục đích "hạ uy tín" của tổ tiên
dân Việt, chủ nhân các văn hoá từ Hoà Bình đến Đông Sơn. Một
vùng nhỏ, ít dân như Bắc Việt không thể so sánh được với các
nhóm dân quá đông đúc sống trên một vùng rộng lớn như Trung Hoa.
So với cư dân khác tại Đông Nam Á, ngoài trừ kĩ thuật làm trống
đồng, văn minh Đông Sơn có lẽ cũng không cao hơn nhiều. Dĩ nhiên
về mặt chính trị, Trung Hoa với số dân và chủng tộc quá đông
đảo, phải tìm mọi cách để tránh những nổi dậy, yêu sách sắc tộc
và/hoặc để cổ động, biện minh cho chủ trương bành trướng, cũng
như Việt Nam, để giữ đoàn kết dân tộc, tự vệ trước người láng
giềng quá lớn và nhiều tham vọng. Một trong những phương tiện là
ra sức chứng minh, khẳng định sự lâu đời và liên tục đồng nhất
hoặc hơn trội về cội nguồn văn hoá, chủng tộc của mình.
Nhưng quả là liều mạng khi xem "Đông Nam Á là một trung tâm văn
hoá lớn ngay từ thời cổ đại, trong đó Việt Nam là nơi hội tụ ở
mức độ đầy đủ nhất mọi đặc trưng của văn hoá khu vực", như một
học giả trong nước đã viết (theo Tạ Chí Đại Trường, xem phần
sách tham khảo) mà không đưa ra lí luận cũng như bằng chứng
thuyết phục.
Nhìn lại nguồn gốc dân Việt
Khi xét về nguồn gốc dân Việt, chúng ta cần tổng hợp các nguồn
tài liệu khác nhau, trong đó có khối lượng đồ sộ về khảo cổ tích
tụ từ thời Pháp thuộc. Các nhà khảo cổ Việt Nam hiện đại đã đóng
góp phần rất quan trọng trong việc khai quật, sắp xếp, phân tích
các di tích văn hoá cổ trên đất Việt Nam. Tuy nhiên di truyền
học (có lẽ vì quá mới mẻ ? và nhiều tốn kém ?) gần như vắng mặt
trong những nghiên cứu này. Di truyền học là một ngành không thể
thiếu trong việc nghiên cứu gốc gác chủng tộc. Thật vậy, văn hoá
có thể vay mượn, và ngôn ngữ phần lớn tuy có liên hệ với nguồn
gốc, nhưng những dây liên hệ rất phức tạp; khi có sự hợp chủng,
ngôn ngữ không những chịu ảnh hưởng của sự lai giống, mà còn tuỳ
vào những yếu tố như sức mạnh tương đối các giống dân, số đông
và khả năng chuyên chở rõ ý tưởng.
Trong tình trạng thiếu hiếm dữ kiện di truyền học về dân Việt
các miền và về những sắc tộc có liên hệ gốc gác với người Việt
như Tày, Mường, Ba-Na, Gia-Rai..., "Địa đàng ở phương Đông" là
một nguồn tư liệu rất quý. Tính chất cổ xưa của di tố các dân
tộc toàn vùng Đông Nam Á do Oppenheimer nêu ra, kết hợp với kết
quả nghiên cứu sọ cổ, đưa đến kết luận là "người hiện- đại" đến
từ Phi châu đã sống trong vùng Đông Nam Á từ sáu mươi ngàn năm
trước cho đến thời đá mới (khoảng 8 ngàn năm trước). Họ là người
thuộc chủng Australoid- Melanesian cổ. Tuy có những thay đổi đặc
điểm nhân chủng theo khí hậu và môi trường (qua sự lựa chọn, đột
biến tự nhiên của genes), cư dân trên đất Việt trước thời đá mới
(thuộc các văn hoá Sơn Vi, Hoà Bình, Bắc Sơn) là những người
thuộc chủng nói trên, cũng như các nhóm dân khác sống trong cùng
vùng lúc ấy và cùng khí hậu (ở Ần độ, Miến Điện -Myanmar-, Thái
Lan, Cao Miên -Kampuchia-....). Họ có đại diện cùng chủng ở New
Guinea, nơi cư dân cổ sống trong những vùng hẻo lánh, ít tiếp
xúc với các chủng khác. Họ có đặc điểm như mũi to, tóc quăn, mặt
rộng, cung mày rộng, vùng chân răng (prognath ) vẩu, đầu to dài,
da ngâm đen.
Xuất phát từ cùng một nhóm người với cùng ngôn ngữ gốc Austric,
nhưng sống trên một vùng quá lớn, những nhóm cư dân Australoid
này tất nhiên có những ngôn ngữ khác nhau. Từ tiếng nói chung
lúc đầu, hai nhóm tiếng chính thành hình: nhóm nói tiếng Nam Đảo
(austronesian, như tiếng Indonesia và thổ ngữ các đảo Thái Bình
Dương), và tiếng Nam Á (austroasiatic) là tiếng nói của người
Việt Nam, Munda, Khmer, Môn và một số thổ dân Thái Lan, Mã Lai.
Phương pháp ngôn ngữ tỉ hiệu không chỉ xét những tiếng giống
nhau trong những ngôn ngữ, mà còn xét giọng nói, cấu trúc và thứ
tự từ ngữ trong câu. Bởi thế mà tiếng Việt được xếp vào nhóm
tiếng Nam Á. Tiếng Nam Á là tiếng đơn lập (mà đơn vị cơ bản là
một âm tiết có nghĩa) không "dấu" (atonal, như tiếng Khmer),
nhưng do ảnh hưởng tiếng Tàu, tiếng Việt trở thành có "dấu"
(tonal).
Benedict, và sau này Blust, Oppenheimer đều đồng ý rằng tiếng
Austric cũng là ngôn ngữ gốc của nhóm thứ ba, là nhóm nói tiếng
Thái-Kadai, trước đây sống miền cực Bắc Việt Nam và Nam Trung
Hoa, về sau họ di cư một phần xuống Lào và Thái Lan. Thật ra
tiếng Việt Nam, tuy được xếp vào nhánh Nam Á, lại có nhiều từ
thuộc ngôn ngữ Nam Đảo, và rất nhiều từ Hán Việt. Từ Hán chỉ
thâm nhập vào Việt Nam kể từ thời Hán Vũ Đế về sau. Trái lại các
từ thuộc ngôn ngữ Nam Đảo có gốc trước đó. Bình Nguyên Lộc phân
tích kĩ về tiếng Việt dân gian gốc "Mã Lai". Tiếng "Mã Lai" cổ
của ông bao gồm tiếng nói thuộc hai nhánh chính Nam Á và Nam Đảo
mà ông gọi là "Mã Lai đợt I" và "Mã Lai đợt II".
Vấn đề cần giải thích là cách nào tiếng Nam Đảo đã ảnh hưởng
nhiều đến tiếng nói người Việt cổ (Nam Á). Những từ ngữ "Nam
Đảo" trong tiếng Việt có thể do vay mượn, hoặc do quan hệ gốc
gác (di truyền).
Vay mượn xảy ra khi hai nhóm dân sống chung đụng trong một thời
gian. Nhưng dân Việt chỉ sống chung đụng nhiều với dân Chàm nói
tiếng Nam Đảo từ khoảng ngàn năm nay, khi nước Việt bành trướng
xuống phương nam. Nước Lâm Ầp nói tiếng Chàm (sau trở thành
Chiêm Thành) được sử Tàu nói đến ngay từ đầu công nguyên như
nước giáp ranh với nước Việt, lúc đó là quận Giao Chỉ của Tàu.
Cư dân văn hóa Sa Huỳnh (và tiền Sa Huỳnh) nói tiếng Nam Đảo có
mặt từ lâu trước công nguyên trên bờ biển miền Trung Việt Nam
hẳn đã là một trong những văn hoá gốc của những vương quốc Chàm
này.
Văn hóa Sa Huỳnh là một văn hoá rực rỡ của dân nói tiếng Nam Đảo
vào thiên kỷ thứ nhất trước công nguyên, với những đồ sắt tiến
bộ trước cả văn minh Đông Sơn, với nhiều đồ trang sức đẹp đặc
biệt bằng đá và bằng thuỷ tinh (bông tai bốn hoặc ba mấu, bông
tai tạc hình đầu thú ở hai đầu, chuỗi đeo...), và tục táng người
trong mộ vò. Căn cứ vào số lượng và kĩ thuật làm đồ thuỷ tinh,
tôi cho là cư dân Sa Huỳnh đã làm ra thuỷ tinh đầu tiên trong
vùng Đông Nam Á (không nơi nào khác có di tích thuỷ tinh vào
cùng thời); và có kĩ thuật cao đến độ chế được đồ trang sức khá
cầu kì : ngoài hạt chuỗi các loại, người ta tìm được một khuyên
tai hai đầu thú bằng thủy tinh đang làm dở dang. Như vậy Sa
Huỳnh không kém vùng Cận Đông, là nơi làm thủy tinh sớm nhất thế
giới, vào thế kỷ 7 trước công nguyên. Trung Hoa mãi đến sau công
nguyên mới bắt đầu sản xuất đồ thuỷ tinh, còn trước đó họ nhập
từ nơi khác. Sách cổ Trung Hoa cho biết con cháu cư dân Sa
Huỳnh, người nước Lâm Ầp, làm được bát thuỷ tinh, là đồ quý, đem
cống vua Trung Hoa ở những thế kỷ đầu công nguyên. Việc dân Sa
Huỳnh khám phá ra thủy tinh sớm xem ra hợp lý về mặt khoa học.
Muốn có thủy tinh phải có cát mịn (silica) trộn vỏ sò nát
(calcium carbonate), là những món có sẵn ngay trên bờ biển họ
sống. Khi luyện sắt gần bờ biển, rất có thể cư dân địa phương
tình cờ tạo ra trong lò những mảng thủy tinh sáng bóng, và từ đó
phát minh việc chế đồ trang sức bằng vật liệu nhân tạo này.
Ngành khảo cổ chứng minh cư dân Sa Huỳnh đã buôn bán trao đổi
với những dân Nam Đảo khác, như thổ dân Phi Luật
Tân-Philippins-, Mã Lai-Malaysia-, Nam Dương - Indonesia -.
Người cổ Sa Huỳnh bán đồ sắt, đồ gốm, đồ trang sức., và có mua
trống đồng.từ Đông Sơn ! Ngành khảo cổ thế giới xem văn hoá Sa
huỳnh quan trọng không kém văn hoá Đông Sơn. Từ sự có mặt của di
vật văn hóa này ở vùng bờ biển hay hải đảo khác nhưng không có
dấu vết chế tạo tại chỗ, ngườI ta suy ra là có sự buôn bán trao
đổi. Theo Solheim, gốm Sa Huỳnh có liên hệ với gốm Kalanay của
dân Phi Luật Tân cổ. Solheim đưa ra thuyết "mạng buôn bán trao
đổi Nusantao" của dân Nam Đảo trên khắp biển Thái Bình Dương mấy
ngàn năm trước công nguyên. Dù cư dân Sa Huỳnh sau đó chịu ảnh
hưởng nặng của văn hoá Ần Độ, nhưng tiếng nói Nam Đảo vẫn còn
tồn tại lâu sau đó trong dân Lâm Ầp và Chàm, cho.đến khi họ bị
dân Việt đồng hoá dần vào thiên kỷ II sau công nguyên. Một số cư
dân cổ này đã lên trên cao nguyên miền Trung, là tổ tiên những
thổ dân nói tiếng Nam Đảo còn sống đến ngày nay như người
Gia-Rai, Rha- đê. Những bộ lạc khác trên cao nguyên (cùng gọi là
"Thượng" như các bộ lạc Nam Đảo) lại nói tiếng Nam Á, và có tổ
tiên sống từ lâu ở vùng núi đồi khắp vùng Đông Nam Á. Tuy nhiên
các bộ lạc nói tiếng Nam Á này cũng biết luyện sắt từ đất quặng
để chế thành dụng cụ như người tiền sử Sa Huỳnh; chắc rằng họ
học kĩ thuật làm đồ sắt qua các bộ lạc Nam Đảo gốc gác văn hoá
Sa Huỳnh.
Ngoài tiếng nói, người Việt còn chịu nhiều ảnh hưởng khác của
văn hoá Nam Đảo. Yếu tố Nam Đảo trong phong tục người Việt gồm
tục xâm mình, ăn trầu, việc trồng, ăn khoai từ, khoai môn, và
gồm cả những chuyện cổ tích gốc Nam Đảo như chuyện Sơn Tinh,
Trầu Cau... Theo Hà văn Tấn, văn hoá Sa Huỳnh có gốc ở văn hoá
Bàu Tró (từ Nghệ An đến Thừa Thiên), và chủ nhân văn hoá Bàu Tró
có thể là của "người Nam Đảo". Vậy người Nam Đảo từ đâu đến, và
gốc gác thế nào?
■
Áp dụng lập luận Oppenheimer (về sự thiên di của dân sống trên
thềm lục ra đi khi biển dâng) vào việc phân tích dữ kiện khảo cổ
Việt Nam và Đông Nam Á, tôi xin phác họa hình thành của người cổ
Bắc Việt Nam như sau.
Người cổ thiên di từ Phi châu về phía Đông Nam Á. Đến khi gặp
biển Đông (Nam hải, nói theo Tàu) ngăn chận, họ phải theo hai
hướng. Về phía bắc, họ đến sống vùng nam Trung Hoa và dần dần
tràn lên Mông Cổ, khi núi băng tan bớt, càng đi dần về phía bắc.
Về phía nam, họ thiên di đến trên thềm Sunda, khi đó còn nối
liền lục địa với các đảo phía nam đến tận Úc châu. Tất cả đều là
người thuộc chủng Australoid (da đen, tóc quăn, mũi to...).
Tại phía bắc Đông Á châu người thuộc chủng Australoid thay đổi
dần nhân dạng sau thời gian dài sống trong môi trường lạnh, gió,
ít nắng.
Khoảng 15 ngàn năm trước, chủng Altaic thiên di từ Tây Á, dọc
theo mạn phía đông nam nước Nga đến vùng Tân Cương, lai với thổ
dân đông bắc Á Châu Australoid này, thành chủng Bắc Mongoloid
(da trắng vàng, mắt hí, tóc thẳng). Dân Mông Cổ thuộc chủng này
và nói tiếng Altaic. Chủng Bắc Mongoloid sinh sôi, ngày càng
mạnh lên, bành trướng về phía bắc và qua eo biển Beringia lúc ấy
còn đóng băng, trở nên di dân đầu tiên ( thổ dân Amerindians)
của châu Mỹ. Khoảng 5000 năm trước, tổ tiên tộc Hán sống ở Bắc
Trung Hoa là dân trồng kê thuộc chủng Bắc Mongoloid.
Miền Nam Trung Hoa sau cuối kỳ băng tan có khí hậu nhiệt đới
nóng ẩm. Cư dân Australoid cổ có thể đã lai chủng bắc Mongoloid
ít nhiều. Dân thuộc chủng Bắc Mongoloid bành trướng ngày càng
mạnh về phía nam, gặp cư dân Australoid tại giữa đất Trung Hoa,
sống đan xen với nhau và lai thành chủng Nam Mongoloid (da ngâm
đen, tóc dợn sóng...), kết quả là càng về phía bắc và càng về
sau, cư dân càng nhiều nét Bắc Mongoloid và càng về nam dân càng
nhiều nét Nam Mongoloid. Chủng lai Nam Mongoloid là chủng tạo
thành người Việt, Khmer, Thái, Miến, Mã Lai, Nam Dương, hải đảo
Thái Bình Dương.. Người Nam Mongoloid có những nét của cả hai
chủng Australoid và Mongoloid nhưng với những mức độ đậm nhạt
khác nhau tuỳ theo lai nhiều ít.
Càng về phía nam Đông Nam Á, nét Australoid càng đậm, vì ảnh
hưởng giống Mongoloid hãy còn mới. Ở vùng đảo Thái Bình Dương,
du khách đi từ đầu tây về phía đông trên những đảo (như ở
Indonesia) có thể thấy dễ dàng tỷ lệ lai Australoid tăng dần.
Hiện tượng Australoid lai Mongoloid trên đất Việt Nam có lẽ
không phải do lai thẳng với người Mongoloid chính cống phương
bắc, mà lai qua người nam Trung Hoa, vì người ta không tìm thấy
sọ thuần chủng Bắc Mongoloid nào ở Việt Nam trước thời người tộc
Hán trên phía Bắc đến đô hộ. Trong thời Bắc thuộc, lai với chủng
Bắc Mongoloid đến đô hộ, cư dân bắc Việt tuy có thêm nhiều từ
ngữ gốc Hán, nhưng lại mất đi dần dần một số phong tục như xâm
mình và kĩ thuật như tài lặn dưới nước, đóng thuyền to, đi biển,
là những kĩ thuật của thành phần Nam Đảo. Nước Lâm Ầp (và sau đó
là Chiêm Thành) của con cháu người nói tiếng Nam Đảo nhờ không
bị người Hán đô hộ trực tiếp nên vẫn giữ được phong tục, tiếng
nói, và nghề đi biển : Chế Bồng Nga đã đem chiến thuyền vượt
biển đánh phá Thăng Long !
Trên đất Việt Nam, vào thời đồ đá, cư dân thuộc chủng Australoid
ban đầu nói cùng tiếng gốc Austric, dần dần phân thành hai nhóm
dân nói tiếng khác nhau theo vùng họ ở, vì cách sinh sống khác
nhau. Nhóm nói tiếng tiền-Nam- Á sống phía trong lục địa, trú
trong hang động vùng cao (văn hoá Hoà Bình). Nhóm thứ hai nói
tiếng tiền- Nam- Đảo sống vùng đồng bằng ven biển, vào lúc ấy
mức biển thấp, vùng này lan ra xa ngoài đường biển hiện tại trên
vịnh Bắc Việt do thềm lục địa lài /thoai thoải. Tại vùng vịnh
Bắc Việt, dọc từ bờ biển Móng Cái tới Quảng Ngãi qua đến đảo Hải
Nam, đáy vịnh sâu nhất ngày nay không quá 100 mét . Từ bờ ra
khơi 20 km, mực sâu dưới 25 m ! (trong khi ngoài khơi Trung Việt
nơi núi ra tận biển và nhiều mũi, nhiều hòn như mũi Dinh, hòn
Trâu, hòn Tre.bờ biển thật dốc, sụp sâu rất nhanh, không có
thềm). Mười hai ngàn năm về trước, toàn vùng vịnh Hạ Long là đất
liền trải dài về phía đông đến bên kia đảo Hải Nam và Đài Loan,
và về phía bắc lên đến cửa sông Dương Tử. Nhờ các di tích khảo
cổ thuộc văn hoá Soi Nhụ trong những hang cao trên trên bờ vịnh
Quảng Ninh-Hải Phòng hay đảo Cát Bà mà ngày nay ta biết đã có cư
dân sống ít nhất từ 15 ngàn năm trước, trên thềm lục địa Hạ
Long, trước khi mực biển dâng cao. Những di tích khác về cuôc
sống của cư dân sống trên thềm đã bị ngập ở tại đấy (Meacham gọi
là Nanhailand, theo tên Nam Hải, vùng vịnh Bắc Việt), cũng như
tại thềm Sunda, không thể khai quật được. Trong chừng mực nào
đó, vùng vịnh Bắc Việt, kể cả (đảo) Hải Nam có thể xem là lãnh
thổ của một phần tổ tiên người Việt, thuộc thành phần nói tiếng
Nam Đảo, từ 15 ngàn năm trước ! Văn hoá Hạ Long và các văn hoá
tiền Nam Đảo khác sau đó đã góp phần quan trọng vào sự hình
thành văn hoá và con người Việt Nam.
Nhóm nói tiếng tiền-Nam- Đảo không chỉ sống giới hạn ở vùng thềm
lục địa ngay trên vịnh Hạ Long mà có lẽ sống rải rác về phía bắc
trên cùng thềm lục địa, vì người ta tìm thấy hàng loạt di tích
con cháu họ ở vùng HongKong trên những doi cát giống như cư dân
sống dọc biển Bắc và Trung Việt Nam. Đến khoảng 7 ngàn năm
trước, nước đã lên cao hơn gần một trăm mét so với mức 12 ngàn
năm trước. Cư dân ở đấy phải dời đi nơi khác, mang theo kĩ
thuật, phong tục, tiếng nói, và . các di tố. Việc đi lại trên
thềm lục địa từ nam Trường giang đến vịnh Hạ Long dễ dàng hơn
trong đất liền vì không có trở ngại thiên nhiên (độ cao trung
bình dưới 50 thước). Lúc nước lên cao nhất, khoảng 3 đến 5 m
trên mức nước biển ngày nay, vào 4000 năm trước, các thềm lục
địa đã nằm sâu dưới biển.
Như vậy trong suốt mấy ngàn năm, dân sống trên thềm lục địa đã
phải dần dà, lần lượt di cư hoặc tìm cách lánh biển tiến. Theo
Oppenheimer, có người lùi dần vào phía đất cao trong lục địa, có
người đóng tàu đi biển, người ở lại thì phải cất nhà sàn. Có thể
một số nhỏ đã vượt biển, nhưng số đông chọn giải pháp đơn giản
đối với họ là tiến vào chỗ đất liền gần nhất ; đối với cư dân
vịnh Hạ Long, đó là vùng bờ biển Nam Bắc phần và Bắc Trung phần
Việt Nam. Chủ nhân các văn hoá ven biển như Đa Bút, Quỳnh Văn,
Bàu Tró, và cả Bàu Dủ, Sa Huỳnh do đó đều là những người Nam Đảo
tị nạn biển tiến. Riêng dân sống trên thềm lục địa biển vùng
đông nam Trung Hoa, một số lùi vào phía HongKong trong lục địa,
một số lên chỗ cao bên ngoài là đảo Đài Loan. Di tích xưa ở bắc
Đài Loan Dapengeng có gốm hoa văn thừng và hoa văn chải bằng
"lược", cùng loại với nhiều di tích trên bờ biển Nam Trung Hoa
và Bắc Việt Nam, và cư dân nơi ấy cũng ăn sò nhiều, cũng dùng
chày đập vỏ cây. Ngưòi sống trên lục địa này sau đó bị Hán hoá.
Xem qua di tích khảo cổ, tại Đài Loan ngoài các di tích, thổ dân
trên núi còn giữ tiếng Nam Đảo và một số phong tục đến bây giờ
(thí dụ ăn trầu). Những di tích nầy được Trung Hoa xem như di
tích của người "Yue" (Việt) cổ.
Ngày nay các nhà khảo cổ đều đồng ý là cư dân nam Trung Hoa cổ,
và thổ dân chưa bị lai hoàn toàn, không thuộc chủng tộc Hán. Cư
dân vùng cực nam Trung Hoa (Quảng Đông và QuảngTây, Vân Nam, Quế
Lâm) và cực bắc Việt Nam nói những thứ tiếng thuộc nhiều nhánh
khác nhau của ngôn ngữ gốc Austric như Môn, Thái, Kadai, Yao,
Miêu., nhưng thổ dân miền núi cao Đài Loan chỉ nói những tiếng
thuộc một nhánh của ngôn ngữ Austric: nhánh Nam Đảo. Vì những
thổ dân trên núi cao ít tiếp xúc với người Hán (đến trễ và chỉ ở
vùng đồng bằng ven biển), nên có thể xem thổ dân này còn giữ
genes nguyên thuỷ, và văn hoá cổ. Mặt khác, dân Đài Loan cổ có
nhiều liên hệ văn hoá thời đá mới (xưa trên 6000 năm) với các
văn hoá của cư dân vùng Phúc Kiến, đảo Quemoy (Kim Môn),
Hongkong, Quảng Đông, và Bắc Việt cổ (qua di vật như gốm hoa văn
thừng, rìu tứ giác và rìu có vai mài nhẵn). Nếu như ta chấp nhận
những cư dân cổ này có cùng gốc, thì họ là người nói tiếng
(tiền-) Nam Đảo, như thổ dân Đài Loan, và quê hương của họ là
thềm lục địa chung quanh đã bị biển tràn ngập. Vậy thì tại sao
không thể xem vùng thềm biển này, trước khi hồng thuỷ đến, là
một trung tâm văn hoá lớn của dân nói tiếng Nam Đảo ? Đây là một
trung tâm văn hoá Nam Đảo lớn vì đông dân, so với những vùng
được xem như trung tâm gốc của người nói tiếng Nam Đảo theo đề
nghị của Solheim (vùng nam Philippins & bắc Indonesia) hay
Oppenheimer (đông bắc Borneo) hoặc Bellwood (đảo Đài Loan). Thật
vậy, những người rời thềm lục địa trải dài từ vịnh Bắc Việt đến
Đài Loan- Hongkong đến tị nạn ở vùng đất không bị biển ngập gần
đấy đã lập nên nhiều nền văn hoá nối tiếp, để lại rất nhiều di
tích khảo cổ thời đá mới trên bờ biển vịnh Hạ Long và vịnh
Hongkong, cũng như trên đảo Đài Loan.
Một phần cư dân thềm biển nam Trung Hoa (nói tiếng tiền- Nam-
Đảo trong thuyết tôi đưa ra ở đây) hẳn đã di chuyển trên thềm
lục địa từ Trung Hoa đến Bắc Việt để tìm nơi khô ráo. Thật thế,
vì núi cao ra đến tận bờ biền ở rìa lục địa gần Hongkong, nên cư
dân trên thềm đi xa hơn về phía nam, xuống tận Bắc Việt. Di tích
khảo cổ tại những vùng này, từ Hongkong đến Bắc Việt, cho thấy
một dụng cụ đặc biệt của văn hóa Nam Đảo. Đó là chày đập vỏ cây
cho mềm để làm khố che thân, chày mà ngày nay dân Đa Đảo (như
Tonga), cũng như dân Toraja sống trên đảo Sulawesi vẫn còn dùng.
Bắt đầu từ thời đá mới, nghề làm rẫy phát triển với cây có củ
(khoai từ, môn..), và cây ăn trái (bầu, bí, mướp.) khiến số dân
nói tiếng Nam Á ở trong đất liền, và dân nói tiếng Nam Đảo dọc
biển Bắc Việt tăng nhanh. Đất sống bị thu hẹp trong khi dân số
tăng lên, đến một lúc nào đó, hai nhóm dân tràn lan về vùng châu
thổ các sông, trồng thêm lúa, nuôi thêm lợn, và sống định canh
đan xen nhau. Sự hợp chủng của hai nhóm dân này có lẽ đã xảy ra
khoảng 4000 năm trước đây. Phải chăng sự gặp gỡ này đưa đến
truyền thuyết Lạc Long Quân Nam Đảo từ phía biển lên và Ấu Cơ
Nam Á, tiên nữ vùng núi xuống ? Và cuộc gặp gỡ & sống chung có
lẽ xảy ra một cách tương đối hoà bình. Vì đôi bên đều cùng chủng
tộc và ngôn ngữ gốc, và họ có những kinh nghiệm sống bổ túc cho
nhau. Dân Nam Đảo đã đem nghề miền biển : đóng tàu, đi biển,
đánh bắt hải sản góp vào cuộc phối hợp. Dân Nam Á thì đóng góp
nghề lục địa trồng trọt (kể cả lúa gạo), bắt ốc núi, nghề luyện
quặng đồng thau.
Cả hai nhóm đều biết săn bắt - hái lượm và làm đồ gốm (Bắc Sơn
cho nhóm Nam Á, và Quỳnh Văn, Bàu Tró cho nhóm Nam Đảo...) Nhưng
họ cũng có các kĩ thuật đặc trưng riêng. Nhóm Nam Đảo mặc đồ
(khố, váy) bằng vỏ cây đập mềm : các nhà khảo cổ tìm thấy 18 cái
chày trong một lần khai quật văn hoá Phùng Nguyên ở châu thổ
sông Hồng. Nhóm Nam Á có lẽ dùng đồ dệt bằng sợi thảo mộc se
bằng dọi ; nhiều dọi đất nung được tìm thấy ở châu thổ sông
Hồng. Đấy là nơi gặp gỡ hai nhóm văn hoá biển- lục địa. Người ta
tìm thấy trong địa bàn văn hóa Phùng Nguyên di tích của cả hai
nhóm Nam Á & Nam Đảo : rìu tứ giác không vai và rìu có vai có
nấc, chày đập vỏ cây và dọi se sợi.
Như vậy Tiên Ấu Cơ Nam Á và Rồng Lạc Long Quân Nam Đảo là tổ
tiên Lạc Việt lẫn Bách Việt (phía Nam Trường giang), và những
Viêm Đế hay Thần Nông của huyền thoại Hán xa xưa, nếu có, có lẽ
không dính dáng đến tổ tiên tộc Việt. Cuộc phối hợp văn hóa hoàn
tất vào thời Đông Sơn, tạo thành môt văn hóa chung cho cư dân
bản địa, như các tượng người trên những đồ vật bằng đồng toàn
vùng Đông Sơn có cùng nét mặt, cùng y phục trang sức. Cũng như
trên đồ đồng, vừa có hoa văn hình kĩ hà tròn- vạch, vừa có hình
thuyền to (chứa nhiều người). Những hình thuyền to khắc trên
trống đồng cho thấy dân Đông Sơn đã thừa hưởng kinh nghiệm đóng
thuyền từ người nói tiếng Nam Đảo. Tất cả các nhà khoa học đều
đồng ý là dân nói tiếng Nam Đảo có kinh nghiệm lâu đời về nghề
đóng thuyền và hàng hải vì sống nhờ nguồn lợi từ biển, và vì đã
biết dùng thuyền thiên di khi biển dâng. Trong khi người Phùng
Nguyên sống sâu trong đất liền nên không cần thuyền to ; cho dù
họ có dùng thuyền đi trên sông, hồ, nhưng có lẽ không coi là
quan trọng, vì không thấy hình thuyền lên hoa văn đồ gốm.
Như nói ở trên cuộc sống chung này tương đối hoà bình vì các di
tích khai quật cho thấy tại Đồng Đậu, cư dân "đột nhiên" biết
chế tạo vũ khí. Để tự vệ ? Để giải quyết những tranh chấp về
quyền lợi và ảnh hưởng ? Từ đó đưa đến những khủng hoảng mất mát
chia lìa (năm mươi con theo cha, năm mươi con theo mẹ?.) hoặc
đến lúc suy vi sau thời kì sung mãn.
Nhờ người nói tiếng Nam Đảo mà trống đồng Đông Sơn đã được chở
đi khắp Đông Nam Á bằng đường biển (người ta biết vậynhờ đào
được ở Mã Lai một trống Đông Sơn còn gắn/cột dính vào ván
thuyền). Dân cổ trong nhiều vùng ở Indonesia, đặc biệt là dân
Toraja, đến nay còn giữ truyền thống Đông Sơn, có lẽ là di dân
(khá đông, nên gia tài mang theo được lưu truyền) đi từ Bắc Việt
(khi những người con xuống biển theo bên cha ? hoặc/và) trễ lắm
là họ tị nạn lúc Trung Hoa chiếm Việt Nam. Bởi vì hoa văn trên
đồ (trống) đồng Việt sau khi bị Hán chiếm đã bị/có ảnh hưởng mĩ
thuật của người Hán. Trong khi dân Toraja ngày nay vẫn còn làm
vật lưu niệm, đồ trang sức trang trí với hoa văn kĩ hà thuần
Đông Sơn, và họ vẫn ở nhà rông cất đúng theo hình trên trống
đồng Đông Sơn. Họ cử hành đám táng với quan tài hình thuyền kiểu
Đông Sơn. Kiều Quang Chẩn gần đây nhắc lại đề nghị của nhiều học
giả Tây Phương về nguồn gốc Đông Sơn của nhóm dân Dayak sống tại
bắc đảo Borneo, cách khá xa dân Toraja ở đảo Sulawesi trong quần
đảo Indonesia. Trong chuyến đi Indonesia khảo cứu về trống đồng,
ông ghi nhận là dân Dayak cũng có nhà rông mái cong, trồng lúa
nước và tục đưa linh hồn người chết bằng thuyền.
Kĩ thuật làm trống đồng còn được lưu truyền nhiều thế kỷ sau
công nguyên tại Indonesia (trong đó trống nhỏ còn được làm lâu
sau đó), mà Hà văn Tấn gọi là trống bản địa vì hình dáng hoặc
trang trí, hoa văn trên nhiều trống đào được ở Indonesia mang
nhiều ảnh hưởng địa phương (cảnh hiện thực người, ngựa, voi,
công.). Kiều Quang Chẩn, cũng như nhiều học giả Indonesia cho là
hầu hết các trống to (loại Heger I) nhập từ Bắc Việt thời Đông
Sơn (kể cả sau khi Bắc thuộc). Chỉ tiếc là ngày nay kĩ thuật
phức tạp dùng để đúc trống (cần thợ giỏi nhiều ngành) mà di dân
Đông Sơn để lại tại Indonesia đã thất truyền, chỉ còn mĩ thuật
hoa văn trên đồ dồng cỡ nhỏ.
Nơi xa nhất có đồ đồng Đông Sơn là đảo Flores, gần Úc châu. Đồ
đồng đó là một chiếc "thuyền mỹ nghệ" giống kiểu thuyền khắc
trên trống đồng Đông Sơn. Thuyền được dân địa phương xem như di
sản tổ tiên họ đem đến bằng đường biển với câu chuyện kể trong
một bài hát chỉ được hát trong những lễ đặc biệt. Tổ tiên ấy
cũng là một số người Việt Đông Sơn (không chịu nổi ách đô hộ của
người Tàu hoặc kháng chiến quân Việt bị Tàu truy nã ?) lên đường
theo lối cũ của bà con vượt biển chạy lụt thuở trước hay vì óc
mạo hiểm, muốn tìm miền đất hứa nào đó ? Có lẽ không bao giờ ta
biết được, vì người Việt Đông Sơn không để lại chữ viết. Ngoài
các huyền thoại, truyền thuyết bằng miệng, không một sự việc,
lịch sử, hay câu chuyện nào ghi lại bằng chữ viết hay hình vẽ
trên đá, trên gỗ- giấy, hoặc khắc trên đất nung, mu rùa. Trong
khi đó người ta biết nhiều sự việc xảy ra thời "tiền sử" ở Trung
Hoa, Ai Cập, hay các xứ vùng Cận Đông, Ần Độ, Trung Hoa, hay của
cổ dân Trung Mỹ ngày nay, qua các chữ hay kí hiệu khắc trên các
vật liệu giữ được lâu nói trên là mu rùa, đất nung, đá.
■
Như những dân tộc khác, dân Việt đã lai nhiều trong suốt thời
tiền sử và trong thời Hoa thuộc (thời Pháp thuộc quá ngắn nên
phần lai rất ít). Nhưng các di tích về gốc gác trên miền bắc
Việt Nam còn rõ rệt, và gốc này có liên hệ sâu xa với những tộc
nói tiếng Nam Á và Nam Đảo. Nói về chủng tộc theo di truyền học,
dân Việt xa xưa có chung cội rễ với người cổ vùng Hoa Nam và
người cổ Đông Nam Á. Tuy nhiên văn hoá Việt Nam biệt lập và đầu
tiên thành hình từ văn hoá bản địa của những tộc nói tiếng tiền-
Nam Á trong lục địa và tiếng tiền-Nam Đảo ở vùng thềm lục địa
đông bắc Bắc Việt. Và vẫn giữ được độc lập quốc gia và bản sắc
văn hoá riêng cho đến nay. Trong khi toàn vùng Nam Trường giang
đều bị Hán hoá.
Ảnh hưởng của văn hoá Nam Đảo trên văn hoá Việt cổ đã được Hà
Văn Tấn đề cập rải rác trong các bài viết tập hợp trong cuốn
"Theo dấu các nền văn hoá cổ". Tôi chỉ căn cứ vào lập luận của
Oppenheimer và kết quả mới về di truyền học Đông Nam Á, để làm
rõ nét thêm nguồn gốc dân tộc Việt.
Ai chẳng hãnh diện về một quá khứ đặc thù tốt đẹp? Nhất là khi
quá khứ tốt đẹp ấy có thể giúp một dân tộc hiện tại nghèo nàn
lạc hậu phấn đấu tiến lên cho khỏi hổ thẹn với tổ tiên. Tự ti
hay tự tôn đến từ những nhận xét chủ quan, dựa vào những chứng
cớ và lí luận. Lí luận có thể khác nhau nhưng chứng cớ khoa học
phải được tôn trọng, cho đến khi tiến bộ khoa học về sau lại phủ
nhận sự chính xác hiện tại của chúng. Điều quan trọng hơn là làm
thế nào cho nước Việt, dân Việt hiện nay có thể tiến bộ để bắt
kịp, hay vượt qua, những nước trong cùng vùng. Đó là một thách
đố cho tất cả người Việt Nam ngày nay.
Nguyễn Quang Trọng
Rouen 01/2002
• Diamond JM (1988) Express train to Polynesia. Nature
336:307-308
• Ballinger SW, Schurr TG, Torroni A, Gan YY, Hodge JA, Hassan
K, Chen K-H, et al Southeast Asian mitochondrial DNA analysis
reveals genetic continuity of ancient Mongoloid migrations.
Genetics 130, 139- 152 (1992) Trích bản tóm tắt: Human
mitochondrial DNAs (mtDNAs) from 153 independent samples
encompassing seven Asian populations were surveyed for sequence
variation. The greatest mtDNA diversity and the highest
frequency of mtDNAs with HpaI/HincII morph 1 were observed in
the Vietnamese suggesting a Southern Mongoloid origin of Asians.
• Bellwood P (1991) The Austronesian dispersal and the origin of
languages. Sci Am 265:70-75
• Blust R, Subgrouping, circularity, and extinction: some issues
in Austronesian comparative linguistics, Symp Ser Ins Linguist
Acad Sinica, 1, 31 (1999)
• Capelli C, Wilson JF, Richards M, Stumpf M PH, Gratrix F,
Oppenheimer S, Underhill P, Pascali V, Ko T, Goldstein DB, A
Predominantly Indigenous Paternal Heritage for the
Austronesian-Speaking Peoples of Insular Southeast Asia and
Oceania Am. J. Hum. Genet., 68:432-43, 2001.
• Hà văn Tấn, Theo dấu các nền văn hóa cổ , Nhà xuất bản Khoa
học Xã Hội, Hà Nội (1998)
• Hà văn Tấn, Văn hóa Đông Sơn ở Việt Nam , Nhà xuất bản Khoa
học Xã Hội, Hà Nội (1994)
• Higham C, The bronze age of southeast Asia, Cambridge
University Press (1996)
• Khảo cổ học Việt Nam, I Thời đồ đá, và II, Thời đại kim khí
Việt Nam, Hà văn Tấn Ed, Nhà xuất bản Khoa học Xã Hội, Hà Nội
(1998)
• Kiều Quang Chẩn, Văn hoá Đông Sơn ở Indonesia- một thoáng
nhìn, Thế kỷ 21, tháng 6 năm 2001
• Meacham W, On the improbability of austronesian origins in
south China, Asian perspectives, 25 (1), 100 (1985)
• Nguyễn văn Tuấn, Đặt lại vấn đề nguồn gốc dân tộc Việt, Thế kỷ
21, tháng 12 năm 2001
• Oppenheimer S, Eden in the East The Drowned Continent of
Southeast Asia, Phoenix, 1999
• Solheim WGH, Southeast Asia and Korea : from the beginning of
food production to the first states, in History of humanity:
scientific and cultural development, vol. 1 (Prehistory and the
beginning of civilization) Ch. 45, UNESCO/Rouletge, 468-80
(1994)
• The slow birth of Agriculture, trong Special section :
Archeology : Transition in prehistory, Science, 282, 1446,(1998)
•Tạ Chí Đại Trường, Tham gia đối thoại sử học, Văn Học,
Westminster (USA), tháng 9, 9-33
• Shiba R., Việt và Nhật, nguyên tác đăng trên Bungei Shunju
tháng 2-1990, Vĩnh Sính dịch, Diễn Đàn Forum (Pháp), tháng
1-1993, 24-25
• Bình Nguyên Lộc, Nguồn Gốc Mã lai Của Dân Tộc Việt Nam (The
Malay origin ofVietnamesepeople),Bách Bộc,Saigon,1971)
• Hemudu, Zhonghua Yuangu Wenhua Zhiguang (Hemudu, light of
ancient culture in China), ISBN 7-81035-572-4/K.066 (1998)
• Su B, Xiao J, Underhill P, Deka R, Zhang W, Akey J, Huang W,
Shen D, Lu D, Luo J, Chu J, Tan J, Shen P, Davis R,
Cavalli-Sforza L, Chakraborty R, Xiong M, Du R, Oefner P, Chen
Z, Jin L, Y-chromosome evidence for a northward migration of
modern humans into eastern Asia during the last Ice Age, Am J
Hum Genet, 65, 1718-1724 (1999)
• Chu J Y, Huang W, Huang SQ, Xu JJ, Chu Z T, Yang Z Q, Lin K Q,
Li P, Wu M, Geng Z C, Tan C C, Du R F, Jin L, Genetic
relatioship of populations in China, Proc Nat Acad Sci USA, 95,
11763 (1998)
■
(Dưới đây là bản đồ và chú thích J)
Bản đồ vùng Đông Nam Á lục địa, từ Nam Trung Hoa đến Trung Việt
Nam. Bờ biển phía đông (đường liên tục __) được thềm lục địa (độ
sâu dưới 100 m, đường vẽ-) bọc bên ngoài đến tận đảo Đài Loan và
Hải Nam. Những mũi tên chỉ hướng đi của dân nói tiếng Nam Đảo từ
ngoài thềm lục địa di tản vào đất liền dọc bờ biển Bắc Việt khi
vùng vịnh Hạ Long bị biển ngập.
Địa điểm di tích các văn hóa:
1- Soi Nhụ; 2- Hạ Long; 3- Đa Bút; 4- Quỳnh Văn; 5- Bàu Tró; 6-
Sa Huỳnh; 7- Hong Kong (cửa sông Châu giang); 8- Dapengeng; HB:
Hoà Bình.
2- Các di tích dọc sông Dương tử, kể từ thượng nguồn (bên trái):
a- Sanxingdui, b- Pengtou; c- Diantonghuan; d- Hemudu
