|
CHƯƠNG
III
ĐA
DẠNG THỰC VẬT và SỰ TIẾN HÓA
Giới thực vật bao gồm
tất cả những cơ thể đa bào
quang hợp được.
Tất cả thực
vật đều có chứa diệp
lục tố a, là sắc tố chính tham
gia vào sự quang hợp.
Thêm vào đó là những diệp
lục tố khác và các sắc tố
phụ cũng tham gia vào sự hấp thu
ánh sáng. Thực
vật rất đa dạng, từ
những dạng h́nh sợi, tộc đoàn,
h́nh bản của những Tảo
đơn giản đến những
thực vật tiến hóa có hoa với
rễ, thân, lá và hoa, là nhóm thực
vật tiến hóa trên trái đất.
Ở thực vật bậc thấp
gồm nhiều nhóm Tảo, chủ yếu
sống trong môi trường nước.
Tảo phân biệt với những
thực vật khác ở đặc điểm
cơ thể được gọi là
tản (thallus)
chưa có mô dẫn truyền và chưa phân
hóa thành cơ quan và giao tử được
tạo ra bên trong một tế bào, thay v́
trong một cơ cấu đa bào.
Các nhà Tảo học phân chia Tảo
thành nhiều ngành dựa trên sắc
tố trong cơ thể của chúng có nghĩa
là dựa trên màu sắc của chúng.
Thực vật bậc cao với các mô
phức tạp hơn và có sự chuyên hóa
tế bào cao hơn, chủ yếu sống
trên môi trường đất liền.
Chúng có những đặc điểm
giúp chúng có thể sống khỏi môi trường
nước. Một
trong những đặc điểm đó
là sự duy tŕ thế hệ con cái ở
dạng phôi một thời gian trong cơ
thể mẹ. V́
đặc điểm này nên những
thực vật bậc cao c̣n có tên là
thực vật có phôi (embryophytes).
Các thực vật có phôi thích nghi thành
công nhất trên môi trường đất
liền nhờ có mô dẫn truyền để
vận chuyển nước và thức
ăn, và được gọi là thực
vật có mạch (Tracheophyta).
Rêu và Rêu tản (Bryophyta) là thực
vật có phôi nhưng không có mô dẫn
truyền nên
có kích thước nhỏ do khả năng
vận chuyển
nước rất giới hạn.
Sự tiến hóa trong nhóm thực
vật có mạch dẫn đến sự
xuất hiện hột, một cơ
cấu bảo vệ phôi sống được
trong những điều kiện bất
lợi của môi trường, nhất là
vào mùa hạn hán hay mùa đông băng giá.
Có hai nhóm thực vật có hột:
nhóm hột kín (angiosperm, angios: vật
chứa và sperm: hột) hay thực vật
có hoa, với hột được bao kín;
nhóm có hột không được bao kín
gọi là hột trần (gymnosperm, gymnos:
trần).
I.
TẢO
Theo
xu hướng phân loại hiện nay
Tảo đơn bào được
xếp vào Giới Protista (Giới Nguyên
sinh vật). Tảo
đa bào được xếp vào
Giới thực vật (Plantae).
Tuy nhiên trong giáo tŕnh này để
thấy sự tiến hóa từ Tảo
đơn bào đến đa bào nên
cả hai nhóm đều được
xếp cùng một chương.
Sự
phân chia các ngành Tảo căn cứ vào
đặc điểm như sắc
tố, tổ chức của lục
lạp, thành phần hóa học của vách
tế bào, loại chất dự trử và
nhiều đặc điểm khác...
Tất cả các Tảo này đều
có chứa diệp lục tố a, chúng khác
diệp lục tố khác cũng như
những sắc tố phụ tham gia vào
sự quang hợp.
Sự phối hợp của các
sắc tố làm cho Tảo có màu sắc
đặc trưng.
Nhóm Tảo có màu lục (Ngành
Tảo lục, Tảo ṿng, Tảo mắt)
với diệp lục tố a, b là
trội. Nhóm
Tảo có màu từ vàng đến nâu
đậm hay hơi đỏ (Ngành,
Bacillariophyta, Pyrrophyta, Phaeophyta) có diệp
lục tố a, c và thêm các sắc tố
xanthophyll. Tảo đỏ (Ngành Rhodophyta) có
diệp lục tố a bị che khuất
bởi những sắc tố phycobilin tương
tự sắc tố được t́m
thấy ở Vi khuẩm lam.
Sự phân biệt c̣n dựa vào
đặc điểm về sinh hóa, h́nh
thái, cách sinh sản, dạng của giao
tử. Trong
từng ngành cũng có sự đa
dạng về h́nh thái, từ những sinh
vật đơn bào đến những
sinh vật đa bào phức tạp.
Chu kỳ đời sống trong
từng ngành cũng biến thiên kể
cả sự khác biệt về giao tử,
về số lượng, vị trí và
hoạt động của chiên mao.
Sự đa dạng của Tảo
hiện nay
thường được dùng để
diễn giải mối quan hệ họ hàng
và sự tiến hóa.
* Đặc điểm chung.
Tảo đỏ (H́nh 1) chứa
diệp lục tố a và sắc tố phycobilin
tưong tự ở Vi khuẩn lam, nên có
lẻ có cùng nguồn gốc với sinh
vật sơ hạch này.
Tảo đỏ có thể có màu
đỏ khi sắc tố phycoerythrin
trội hơn những sắc tố khác,
nhưng sắc nâu, lục đậm cũng
xuất hiện do phycoerythrin bị ánh sáng
chói phân hủy.
Chúng thường có màu đỏ hơn
trong bóng râm hay ở những độ sâu
(phycoerytrin phản chiếu ánh sáng đỏ,
hấp thu tia sáng có độ dài sóng
ngắn trong phần xanh lam của quang
phổ và nhờ thế tăng cường
quang hợp ở dưới mặt nước).
Mặc dù Tảo đỏ đa
dạng từ đơn bào đến
đa bào h́nh sợi, h́nh bản hay h́nh
dạng phân hóa thành các mô phức tạp
hơn, nhưng cấu trúc chung của
tản là
gồm các sợi liên kết với nhau
theo các kiểu khác nhau.
Ngay cả khi Tảo h́nh bản hay h́nh
trụ; dưới kính hiển vi các
tế bào đều được
sắp xếp thành sợi.
Tản được bao bọc
bởi chất nhày của vách tế bào,
một trùng phân của galactoz, có giá
trị kinh tế.
Một số Tảo tiết ra
vào trong vách tế bào của nó và cơ
thể được bao phủ bởi
chất vôi được gọi là
Tảo san hô góp phần tạo ra các
rạng san hô ở biển nhiệt đới.
* Các sản phẩm thông dụng.
Giống như Tảo nâu, Tảo
đỏ được dùng như
thực phẩm và hiện nay được
trồng ở biển Á Châu. Thí dụ
Rong mứt (Porphyra) là thực phẩm
phổ biến
ở Nhật.
Chất nhày của vách tế bào có
thể được chế biến thành
agar, được sử dụng rất
nhiều trong pḥng thí nghiệm để làm
môi trường cấy mô, vi khuẩn và
thuốc tan chậm và dược liệu
cho bịnh đường ruột.
Carrageenan và gelan là những chất
keo có nguồn gốc từ chất nhày
của vách tế bào Tảo đỏ
được dùng để làm nhũ tương
trong những sản phẩm sửa và sơn.
* Sinh sản.
H́nh thức sinh sản của Tảo
đỏ rất đặc trưng
chỉ có ở Tảo đỏ.
Giao tử bất động và đặc
biệt hơn nữa là ở
một số trường hợp nhân
của hợp tử di chuyển vào
một tế bào phụ kế cận, và
hợp tử được phân chia trong
tế bào phụ đó.
Bào tử được sinh ra từ
tế bào nhiều nhân này để
bắt đầu cho một thế hệ
lưỡng tướng mới.
a.
Ngành Bacillariophyta (Khuê tảo)
Khuê
tảo là những đơn bào tṛn hay dài
(H́nh 2) hoặc các tế bào dính với
nhau thành sợi hay các tộc đoàn phân
nhánh. Vách
của tế bào Khuê tảo gồm hai
mảnh vỏ gắn khớp vào nhau
(diatomos: cắt làm hai).
Khi tế bào phân chia, mỗi nửa
tế bào tạo ra một nửa mới
gắn khít vào mép trong của nửa
tế bào mẹ.
Do đó, Khuê tảo nhỏ dần
ở mỗi lần sinh sản vô tính.
Sự sinh sản hữu tính phục
hồi lại kích thước ban đầu
của nó. Vách
tế bào được cấu tạo
bởi những tinh thể silic với các
kiểu chạm trổ tinh vi không những
dùng để phân loại mà c̣n được
dùng để kiểm tra độ phân
giải của kính hiển vi.
Khuê
tảo được t́m thấy trong phiêu
sinh với số lượng vô cùng
lớn. Các
trầm tích đá diatomit ở đáy
biển được t́m thấy trong
kỷ Jurassic là bằng chứng của
sự phong phú của Khuê tảo trong quá
khứ. Chất
silic trong đá diatomit có giá trị kinh
tế quan trọng, dùng để chế
tạo gạch chịu lửa, có thể dùng
để lọc và để đánh bóng
các đồ bằng bạc.
b.
Ngành Pyrrophyta (Tảo giáp)
Giống
như Khuê tảo, Tảo giáp (H́nh 3) là
một nhóm Tảo đơn bào và là thành
phần quan trọng của phiêu sinh nước
ngọt và nước mặn.
Một số loài ở biển
tạo ra toxin và sự nở hoa (bloom)
của các loài này có thể làm chết cá
và ṣ ốc và gây ngộ độc cho người
ăn phải các hải sản này.
Lớp
Song chiên tảo (Dinophyceae) (dinein: quay ṿng ṿng)
thuộc ngành Tảo giáp, chúng có tên như
thế v́ tế bào quay ṿng ṿng khi chúng bơi
lội. Nhiều
loài có các tấm celuloz bao phủ.
Ở một số giống trên
tế bào có hai rănh, một rănh ngang và
một rănh dọc.
Trong mỗi rănh có một chiên mao, chiên
mao trong rănh dọc hướng về phía
sau, hoạt động như một bánh lái.
Chiên mao trong rănh ngang xoắn theo h́nh
xoắn ốc, chiên mao này đẩy
tế bào đi về phía trước, cùng
lúc làm tế bào xoay tṛn.
Các
Song chiên tảo c̣n hấp dẫn các nhà
Tảo học bởi đặc điểm
bất thường của nhiễm
sắc thể.
Nhiễm sắc thể. vẫn
giữ trạng thái đóng xoắn
(condensed) trong suốt chu kỳ tế bào,
do đó luôn luôn quan sát được chúng
trong nhân. Nhiễm
sắc thể của chúng giống
nhiễm sắc thể của tế bào sơ
hạch là không có histon.
Do đó, Song chiên tảo c̣n
được gọi là trung nhân
(mesokaryote) để chỉ tính trung gian
giữa sinh vật sơ hạch và chân
hạch.
Ở
một số loài, kính hiển vi điện
tử cho thấy có thêm một nhân chân
hạch, thật ra đó là nhân của
một Tảo cộng sinh.
Nhân chân hạch và lục lạp
thấy dưới kính hiển vi điện
tử được ngăn cách với
tế bào chất của Song chiên tảo
bởi một hệ thống màng là màng
của thể nội cộng sinh.
Sự xâm nhập của tế bào chân
hạch vào tế bào
trung nhân là một bằng chứng
nữa cho thuyết nội cộng sinh.
c.
Ngành Phaeophyta (Tảo nâu)
Các
Tảo có màu vàng đến
nâu đôi khi hơi đỏ có
diệp lục tố a, c thêm vào đó là
những phân tử xanthophyll khác nhau.
Xanthophyll là carotenoid
khác với caroten là trong phân tử có
oxy.
*Đặc
điểm chung.
Trong số các Tảo biển có kích
thước lớn nhất (H́nh 4).
Thí
dụ, Macrocystis có thế dài hơn 100m.
Hầu hết là Tảo sống trong
biển, một số loài của Fucus hay
Laminaria có thể trôi nổi theo thủy
triều trong lúc bám vào đá hay những
giá thể khác.
Biển Sargasso ở Đại Tây Dương
được đặt tên cho Tảo nâu
Sargassum làm thành
bè trôi nổi do chúng tách rời khỏi các
giá thể.
Tảo
nâu có mô phân sinh giúp cho lá tăng trưởng.
Ở Laminaria có những dăy tế bào
dẫn truyền những sản phẩm
quang hợp giống như tế bào
ống sàng của thực vật có
mạch. Không
phải tất cả đều có kích thước
lớn, Ectocarpus là những sợi nhỏ
phân nhánh mọc thẳng đứng
từ các sợi nằm sát vào giá
thể.
Tảo
nâu có chu kỳ đời sống rất
biến thiên. Ở
Laminaria chu kỳ đời sống là
sự xen
kẻ thế hệ dị h́nh; với giao
tử thực vật rất nhỏ
(hiển vi), c̣n thế hệ bào tử
thực vật rất lớn.
Giao tử thực vật rất
đơn giản h́nh sợi mang các tinh pḥng
và noăn pḥng c̣n ở Fucus, với chu
kỳ đời sống lưỡng tướng,
sống tự do tạo ra tinh trùng và
trứng sau khi giảm nhiễm.
Hợp tử lưỡng tướng
phát triển trực tiếp tạo ra
tản Fucus.
Tảo có chứa dệp lục
tố a và c, fucoxantin và chất dự
trử là laminarin, nanitol
và lipid. Điểm
đặc trưng là vách tế bào có
chứa acid alginic.
Đây là chất keo ưa nước, có
thể hấp thu một lượng nước
gấp 20 lần trọng lượng
của nó, một yếu tố để
ngăn chận sự hóa khô của
Tảo khi chúng bị bám vào các giá
thể ở nơi thủy triều lên
xuống. Acid
alginic có nhiều giá trị kinh tế quan
trọng.
Tảo nâu không những được
dùng làm thực phẩm mà c̣n cho sản
phẩm từ vách tế bào.
Acid alginic từ Macrocystis
được dùng trong hàng vải
chống lửa, tạo nhũ tương
trong kem, sơn, kem đánh răng, son... có
thể sử dụng chúng trong các vật
liệu để làm răng, plastic,
phủ giấy cho trơn và ngay cả làm
nút áo.
Do có giá trị kinh tế, nhiều loài
Tảo nâu được trồng ở
biển (mariculture).
Laminaria
được trồng trên các sợi dây
thừng được căng ra giữa
những cột tre và cắm ở đáy
biển. Macrocystis
được thu hoạch bằng máy
ở bờ biển California và được
trồng thử nghiệm làm nguồn nhiên
liệu methan.
Tảo nâu có thể đạt kích
thước 25m và tăng trưởng
với tốc độ hơn 50 cm một
ngày.
Tảo
có màu lục có ba ngành: ngành Chlorophyta
gồm nhóm Tảo với sự đa
dạng về h́nh thái và đặc điểm
tế bào học, đặc biệt quan
trọng trong sự xác định mối
quan hệ về tiến hóa của chúng.
Hai ngành c̣n lại th́ đồng
nhất về mặt h́nh thái nên dễ dàng
được tách ra thành các ngành riêng
biệt.
a.
Ngành Chlorophyta (Tảo lục)
Trong
tất cả các ngành Tảo, Ngành Tảo
lục có vẻ là tổ tiên gần
nhất của thực vật bậc cao
nhất. Giống
như thực vật bậc cao, chúng có
diệp lục tố a và b, chất dự
trử là tinh bột.
Nhiều tế bào có vách celuloz như
thực vật bậc cao.
*
H́nh thái: Tảo lục gồm cả
Tảo đơn bào và đa bào (H́nh 5).
Từ những dạng
đơn bào đơn độc,
sống tự do đến những
dạng tộc đoàn di động
được hay không.
Các loài đa bào có h́nh bản, h́nh
sợi có phân nhánh hay không.
Các tộc đoàn không chuyển
động do tế bào mất chiên mao hay
do các tế bào sau sự phân chia vẫn liên
kết với nhau.
Một cơ cấu đặc
biệt là tản cộng bào h́nh ống,
là do không có sự phân bào (cytokinesis: phân
chia tế bào chất) hay sự phân bào không
thường xuyên, kết quả là
thực vật chỉ gồm một
tế bào to phân nhánh với nhiều nhân.
*
Cư trú: Tảo lục được t́m
thấy trong nước ngọt và nước
mặn, trong đất, trên cơ thể
sinh vật khác và cộng sinh trong cơ
thể thực vật khác.
Các Tảo hiển vi làm thành nhóm phiêu
sinh (plankton, plantos: lang thang), là nhóm sinh
vật trôi nổi trong mặt nước,
quan trọng v́ là khâu đầu tiên trong
chuỗi thức ăn.
*Sinh sản: có nhiều h́nh thức
sinh sản hữu tính ở Tảo
lục, đôi khi ngay
cả trong một giống.
Sự đẳng giao (isogamy) hai giao
tử giống nhau về h́nh dạng và
bằng nhau về kích thước, sự
dị giao (heterogamy) hai giao tử khác
biệt về kích thước và sự noăn
giao (oogamy) là một h́nh thức dị giao
mà trong đó tế bào trứng rất
lớn và thường bất động,
ngược lại tinh trùng th́ rất
nhỏ và di động; ngoài ra Tảo
lục c̣n có thể sinh sản bằng cách
tiếp hợp tế bào (conjugation).
Chu kỳ đời sống cũng
rất biến thiên, có thể đơn tướng
hay lưỡng tướng với các cá
thể sống đơn độc,
tự do hay có sự xen kẻ giữa hai
thế hệ đơn tướng và lưỡng
tướng.
* Cấu tạo tế bào: Tảo
đơn bào có hai chiên mao giống như
Chlamydomonas,
được xem là tổ tiên của
Tảo lục. Chlamydomonas có 2 chiên mao
mọc xuyên qua vách tế bào mỏng
bằng glycoprotein, một lục lạp h́nh
chén ở ngoại biên của tế bào.
Bên trong lục lạp có một
hạch lạp (pyrenoid) là nơi dự
trử tinh bột.
Nhân nằm trong vùng tế bào
chất có h́nh chén này.
Một không bào co bóp ở phía đầu
của tế bào để đẩy nước
ra. Một
điểm mắt (eyespot) nhận ánh sáng
nằm ở gốc của chiên mao.
Nhờ điểm mắt và chiên mao
tế bào có thể tự định hướng
và bơi lội về phía có ánh sáng.
Kiểu tế bào có hai chiên mao
của Chlamydomonas (H́nh 5A) cũng được
t́m thấy ở nhiều tộc đoàn
Tảo khác như ở Volvox, một
tộc đoàn h́nh cầu (H́nh 5B).
Trong chu kỳ đời sống
của Tảo lục, tế bào có 2 chiên
mao này c̣n xuất hiện dưới
dạng giao tử hay động bào
tử.
Các tế bào dinh dưỡng của
Tảo lục đa bào không di động,
khác với Chlamydomonas
là không có chiên mao, h́nh dạng tế bào,
vách dày hơn và có một không bào
ở giữa to tương tự những
thực vật bậc cao như ở
Tảo sợi Spirogyra (H́nh 5C).
Số lượng lục lạp trong
một tế bào rất thay đổi
từ một đến nhiều và thay
đổi h́nh dạng từ loài này sang
loài khác: Ở nhiều loài, h́nh dạng
lục lạp tương ứng với
đường cong của tế bào như
ở Chlamydomonas , nhưng ở những loài
khác lục lạp có thể có h́nh dăy, h́nh
trụ h́nh nhiều thùy hay h́nh trứng tương
tự như ở thực vật bậc
cao. Thylakoid của lục lạp xếp thành
hai lớp hay nhiều hơn và lục
lạp được bao bọc bởi hai
màng.
* Sự phân chia tế bào: sự thành
lập động bào tử hay giao tử
xảy ra khi có nhiều sự gián phân
xảy ra bên trong tế bào mẹ và sau
đó là sự phân cắt của tế bào
chất và màng sinh chất bao bọc
mỗi tế bào.
Ngược lại, sự phân chia
tế bào chất kết hợp với
sự tăng trưởng ở Tảo
đa bào, gồm sự tạo vách tế
bào mới giữa hai tế bào con ngay sau
khi gián phân.
b. Ngành Charophyta (Tảo ṿng)
Trước
đây các đại diện của ngành
này được xếp vào Tảo
lục. Chúng
chứa diệp lục tố a và b và
chất dự trử là tinh bột.
Tuy nhiên, với bốn giống, trong
đó thường gặp là Chara và Nitella
hiện nay được xếp vào
một ngành riêng (H́nh 6).
Thân thẳng với các nhánh xếp
thành ṿng, các đại diện của
Charophyta sống ở dưới đáy
của các hồ, ao lâu năm, cạn,
nhiều kiềm.
Một số loài có đặc điểm
là kết tủa được chất vôi
trong nước làm chúng phủ vôi nên chúng
thường được gọi là
Tảo ṿng vôi.
Mặc dù đặc điểm sinh hóa
giống Tảo lục nhưng có những
tổ chức đa bào, có mô phân sinh
ngọn và cơ quan sinh sản đặc
bệt là những lư do để tách chúng
ra khỏi Tảo lục.
Tế bào trứng được bao
bọc bởi một vỏ đa bào,
đặc điểm này giống thực
vật bậc cao hơn Tảo.
Tuy nhiên, tế bào đa nhân và các
bản chất đơn bào của giao
tử nang cho thấy chúng c̣n ở mức
tổ chức của Tảo.
c.
Ngành Euglenophyta (Tảo mắt)
Gồm
những đại diện nguyên sinh
vật với khoảng 40 giống
đơn bào hay tộc đoàn, không có vách
celuloz. Là
những Tảo phiêu sinh và thường làm
thành lớp váng trên mặt nước ao
tù, thường gặp Euglena (H́nh 7) .
Ngoài đặc điểm có lục
lạp, chúng mang nhiều đặc điểm
của động vật như cách
nuốt, tiêu hóa, biến dưỡng
thức ăn. Trong
pḥng thí nghiệm nếu loại bỏ
lục lạp bằng tia cực tím,
nhiệt cao hay cấy trong tối với
sự hiện diện của streptomycine, các
Tảo này có thể sống sót bằng
nguồn thức ăn khác.
Tế bào có thể sinh sản và
tồn tại trong môi trường cấy
có chứa các chất hữu cơ
phức tạp.
Khi không c̣n sắc tố khó phân
biệt chúng với các động vật
nguyên sinh không màu về cách lấy và
hấp thu thức ăn.
Không có vách, tế bào được
bao bọc bằng màng sinh chất.
Bên trong màng sinh chất là màng protein
có khe mỏng, đàn hồi (pellicle) giúp
tế bào có roi uốn lượn quay tṛn
. Mỗi
tế bào có vài lục lạp, chứa
diệp lục tố a và b như Tảo
lục nhưng chất dự trử là
paramylon, một loại đường
đa chỉ có ở Euglenophyta.
*Sự
tiến hóa lên đất liền
So
với thực vật sống trong nước,
thực vật sống trên đất
liền có những thuận lợi như
đầy đủ ánh sáng, khí .
Tuy nhiên, chúng phải đương
đầu với sự khô hạn.
Do đó, để sống được
trên môi trường cạn cây phải có
lông hút để hấp thu nước và
mô gỗ để vận chuyển nước
trong cây, lớp cutin có sáp không thấm nước
phát triển ở các phần khí sinh,
đồng thời phải có những cơ
cấu để trao đổi khí và nước
trong quang hợp như khí khẩu ở lá
và b́ khổng ở các thân cây già.
Cơ cấu phát tán trong không khí thay
v́ các tế bào chuyển động trong
nước cũng là yếu tố quan
trọng của thực vật đất
liền.
Có
hai nhóm cây trên cạn, đài thực
vật và thực vật có mạch
tiến hóa từ Tảo lục.
Sự khác biệt cơ bản
giữa hai nhóm là sự hiện diện
của mô dẫn truyền ở cây có
mạch. Đặc
điểm này giúp cho cây có kích thước
lớn và với sự tiến hóa của
rễ và hột để thoát khỏi môi
trường nước và xâm chiếm
đất liền.
Sự
xen kẻ thế hệ trong chu kỳ đời
sống đều có ở thực vật
trên cạn. Sự
xen kẻ cũng đă có ở tảo và
được duy tŕ ở thực vật
trên cạn có nguồn gốc từ chúng.
Ở Đài thực vật, thế
hệ giao tử thực vật quang dưỡng
ưu thế với bào tử thực
vật nhỏ và sống kư sinh trên giao
tử thực vật.
Ngược lại, ở thực
vật có mạch thế hệ bào tử
thực vật ưu thế, chúng có mô
dẫn truyền, có rễ, thân và lá.
Giao tử thực vật nhỏ và
tự dưỡng ở một số nhóm
và dị dưỡng ở một số
nhóm, nhưng ở thực vật có
hột th́ thế hệ giao tử thực
vật rất nhỏ và là giai đoạn
kư sinh.
II.
ĐÀI THỰC VẬT (Ngành Bryophyta)
Đài
thực vật bao gồm Rêu và Rêu
tản, đều là những thực
vật có kích thước nhỏ v́ chúng
không có mô dẫn truyền và phân bố
rất giới hạn v́ chúng lệ
thuộc vào nước để thụ
tinh. Hầu
hết Rêu sống trong môi trường
ẩm ướt, có một số Rêu thích
nghi được với môi trường
khô, chỉ có mùa mưa là có nước
và sống sót qua mùa khô cho đến mùa
mưa để thụ tinh và phát
triển. Cây
Rêu mọc thành từng đám dày đặc
để giữ nước.
Để đến đưọc
những phần nằm trong không khí, nước
vận chuyển
từ tế bào này sang tế bào khác
hoặc nhờ các lá xếp kết
lợp với nhau.
Điều này giải thích sự
giới hạn về kích thước
của cơ thể, cao nhất chỉ vào
khoảng 30cm. Nước
có vai tṛ chính trong sự sinh sản
của đài thực vật v́ tinh trùng
phải bơi lội đến cơ quan
sinh sản cái.


*
Thế hệ giao tử thực vật.
Cây mang lá thường gặp là giai
đoạn trưởng thành
của thế hệ giao tử thực
vật. Ở Rêu, thế hệ giao tử
thực vật ưu thế mang cơ quan
sinh sản hữu tính là hùng cơ
(antheridium) và noăn cơ (archegonium).
Khác với tinh pḥng và noăn pḥng
ở Tảo chỉ là một tế bào,
của Rêu là đa bào.
Hùng cơ và noăn cơ có h́nh
dạng đồng nhất ở tất
cả các cây Rêu.
Hùng cơ h́nh cầu hay h́nh bầu
dục, được bao bọc bởi
một lớp tế bào, bên trong chứa
nhiều tinh trùng (sperm).
Noăn cơ có h́nh chai với phần
đáy rộng hay gọi là bụng, có
chứa một tế bào trứng và
phần cổ hẹp, dài.
Tinh trùng có chiên mao được phóng
thích vào trong nước quanh các cây và bơi
lội đến cổ của noăn cơ,
chúng được hấp dẫn bởi
các acid hữu cơ do tế
bào ống cổ hóa nhày thải ra.
Khi noăn cơ chín, miệng của noăn
cơ mở ra.
Tinh trùng đi vào trong ống
cổ và sự thụ tinh xảy ra ở
phần bụng của noăn cơ, nơi
đây hợp tử phát triển cho ra
thế hệ bào tử thực vật lưỡng
tướng.
*
Thế hệ bào tử thực vật. Bào
tử thực vật gồm một
cuống với phần chân gắn
chặt vào ngọn cây giao tử thực
vật, phần chót mang bào tử nang. Bên
trong bào tử nang có sự phân chia
giảm nhiễm và bào tử đơn
bội được tạo ra.
Lúc đầu bào tử thực
vật có màu lục nhưng khi trưởng
thành có màu nâu và không c̣n quang hợp
nữa. Bào
tử nang có cấu tạo thích nghi
với sự phát tán của bào tử.
Trên miệng bào tử nang thường
có một ṿng răng, hoặc một dĩa
có lỗ được đậy lại
bằng một cái nắp.
Khi bào tử nang chín, nắp bật
ra, trời khô làm các răng co lại,
kết quả là bào tử được
phóng thích. Bào
tử nẩy mầm lại tạo ra nguyên
ty. Chồi
mọc ra từ nguyên ty phát triển thành
cây giao tử thực vật có mang lá và
tạo ra các cơ quan sinh sản hữu tính.
Mô phân sinh là tế bào ngọn có h́nh tháp
ngược. Sự
phân chia đều đặn ở ba
mặt của tế bào h́nh tháp này
tạo ra lá xếp theo ba hàng dọc,
tạo cho cây có kiểu đối
xứng tỏa tṛn.
Giao
tử thực vật của Sphagnum thích
nghi cao độ với môi trường
đầm lầy.
Chúng tiếp tục tăng trưởng
từ năm này sang năm khác, phần dưới,
già và chết đi, và v́ chúng chịu
sự phân hủy chậm trong điều
kiện kỵ khí, chua của đầm
lầy nên tạo ra than bùn đặc
sắc. Phần
trên cây mọc thẳng đứng vẫn
được cung cấp nước
nhờ sự mao dẫn từ phần bên
dưới lên.
Thân có những tế bào dài nằm
ở giữa dẫn nước, ở b́a
là những tế bào h́nh b́nh dự
trử nước cho cây.
Lá chỉ một lớp tế bào,
bao gồm các tế bào có chứa lục
lạp để quang hợp xen kẻ
với các tế bào dự trử nước
có các lỗ trên vách, đây là kiểu
cấu trúc đặc trưng của Rêu.
Rêu
tản thường có h́nh bản có đối
xứng lưng bụng, mọc sát mặt
đất. Tản
phân nhánh lưỡng phân, do sự phân
cắt đồng đều của
ngọn tản, tạo ra các nhánh h́nh
chữ Y. Giao
tử thực vật với tổ
chức mô rất đơn giản.
Các tế bào quang hợp sắp
xếp sao cho nằm lộ ra ngoài sáng
nhiều nhất.
Các khoảng gian bào cho phép sự
khuếch tán của các khí .
Ở một số loài các khoảng
gian bào này trao đổi trực tiếp
với môi trường bên ngoài, ở
một số loài khác sự thông thương
xuyên qua các lỗ mở ra thường xuyên
trên biểu b́.
Nước vào cây qua các tế bào
của căn trạng (rhizoid) ở mặt
dưới tản, đôi khi căn
trạng xen kẻ với các vảy
mỏng. Mô
của giao tử thực vật có
nguồn gốc từ mô phân sinh nằm
giữa các thùy ngọn.
Ở một số Rêu tản có
một cơ cấu h́nh chén được
gọi là truyền thể (gemmae) (H́nh 9B),
có thể mọc ra tản mới, đây
là một kiểu nhân giống vô tính
của thực vật, chúng được
tạo ra liên tục trên tản.
Cơ quan sinh sản hữu tính
được tạo ra trên các thùy
biến đổi của cây giao tử
thực vật (H́nh 9A).
Lúc trưởng thành, thế hệ bào
tử thực vật (H́nh 9C) chỉ là
một cái túi chứa bào tử, bào
tử nang được mang trên một
cuống với phần chân gắn
chặt vào cây giao tử thực vật.
Khi bào tử chín, các đàn ty (elater)
nằm xen giữa các bào tử bung ra làm
bắn tung các bào tử ra ngoài.
III.
THỰC VẬT CÓ MẠCH
Mặc dù Đài thực vật sống
được trên đất liền nhưng
về kích thước và số loài
không thể so sánh với những thực
vật có mạch.
Các thực vật có mạch có mô
dẫn truyền rất phát triển.
Ngoài ra ở những cây này, thế
hệ bào tử thực vật ưu
thế là những cây có kích thước
lớn, đa dạng về cơ cấu,
số lượng loài phong phú trong khi
thế hệ giao tử thực vật th́
tiêu giảm đôi khi chỉ là một
cấu trúc vớiï vài tế bào.
Thực vật
có mạch bậc thấp không có hột,
có tế bào dẫn truyền là các
sợi mạch (tracheid) và tế bào sàng
(sieve cell); ở thực vật có mạch
bậc cao hay thực vật có hột là
mạch (vessel) và ống sàng (sieve tube).
Thực vật có mạch bậc
thấp gồm bốn nhóm: Dương xĩ
(H́nh 10), Thạch tùng (H́nh 11), Mộc
tặc (H́nh 12) và Tùng diệp (H́nh 13)
gồm những thực vật hóa
thạch.
* Tùng
diệp. Các
nghiên cứu về cổ thực vật
trên các hóa thạch cho thấy những
thực vật có mạch đầu tiên là
những cây nhỏ, thân phân nhánh lưỡng
phân, không có rễ và không có lá, chúng
thuộc nhóm Tùng diệp (H́nh 13).
Các bào tử nang ở đầu hay
dọc theo ngọn nhánh.
Tùng diệp ở đầu kỷ Đề
vôn (Devonien) có lẻ là tổ tiên của
Dương xĩ, Thạch tùng và Mộc
tặc. Cuối
kỷ Devonien, tất cả những nhóm
thực vật có mạch chỉ trừ
những thực vật có hoa đều có
mặt kể cả những cây hột
trần đầu tiên.
*
Thế hệ bào tử thực vật.
Thường là những cây có thân
nhỏ, mọc thẳng đứng,
mang lá hay là những căn hành (rhizome) mang
lá hay bào tử diệp
(sporophyll). Rễ
bất định mọc dọc theo thân,
thân phân nhánh lưỡng phân do mô phân
sinh ngọn phân cắt.
Các thực vật có mạch bậc
thấp ngày nay thường có kích thước
nhỏ trừ vài loài Dương xĩ
ở vùng nhiệt đới có thể cao
đến 20 m.
Nhưng những Thạch tùng và
Mộc tặc hóa thạch là những thân
gỗ có tượng tầng libe gỗ có
kích thước lớn và là thành phần
chính trong các rừng của kỷ
Thạch thán (Carbonifere), h́nh thành nên các
mỏ than đá quan trọng hiện nay.

Lá
của Thạch tùng và Mộc tặc là
những vi diệp (microphyll), ngược
lại với lá của Dương xĩ
là đại diệp (megaphyll).
Vi diệp có nguồn gốc từ
phần ngoài của thân, dần dần
tiến hóa và có mô dẫn truyền.
Theo thuyết Telome (H́nh 14), đại
diệp tiến hóa từ những nhánh lưỡng
phân của những cây Psilophyte sơ khai
(H́nh 14A) . Các
nhánh sắp xếp trong không gian ba
chiều dần dần dẹp ra và cùng
nằm trong một mặt phẳng
(planation: sự hóa dẹp) (H́nh 14B) và
giữa các nhánh nối mạng (webbing)
với nhau bởi mô quang hợp (H́nh 14C).
Bào
tử diệp là các lá mang bào tử nang.
Mỗi nhóm có một kiểu sắp
xếp của bào tử nang khác nhau.
Ở Dương xĩ các bào tử
nang tập hợp thành nhóm được
gọi là nang
quần.



Ở
Thạch tùng các bào tử diệp tập
họp ở ngọn nhánh, có h́nh dùi
gọi là chùy (strobilus) (H́nh 11), mỗi bào
tử nang được mang trên một bào
tử diệp nhỏ.
Ở Mộc tặc các bào tử nang
cũng tập trung thành các chùy, nhưng bào
tử diệp thường khó nhận ra
(H́nh 12). Bên
trong bào tử nang, mẫu bào (sporocyte) phân
cắt giảm nhiễm để tạo
ra bào tử đơn tướng.
Khi trời khô bào tử nang bị
nứt theo một cơ chế đặc
biệt để phát tán bào tử.
Khi điều kiện môi trường
thuận lợi, bào tử nẩy mầm
phát triển thành giao tử thực
vật đơn tướng được
gọi là nguyên tản (prothallus).
*
Thế hệ giao tử thực vật.
Ở Dương xĩ và Mộc tặc,
nguyên tản nhỏ không
quá 1 cm đường kính, màu lục,
dẹp, quang hợp được.
Ở Thạch tùng, giao tử thực
vật cũng nhỏ có h́nh tru,û phần
ngoài không khí màu xanh hay h́nh củ cà rot và
được vùi trong đất.
Các nguyên tản không có màu lục th́
dị dưỡng và cần có nấm
rễ cho sự sinh trưởng.
Mặt dưới của nguyên
tản là căn trạng hấp thu nước,
và những cơ quan sinh sản hữu tính
hùng cơ và noăn cơ.
Tinh trùng được phóng thích
từ hùng cơ bơi lội đến
noăn cơ. Sau
khi thụ tinh hợp tử phát triển thành
bào tử thực vật phôi vẫn
gắn chặt vào giao tử thực
vật đến khi phát triển rễ,
thân và lá (H́nh 15).
Sự xuất hiện của hột
là một lợi thế cho thực vật
thích nghi với đời sống đất
liền. Thực
vật có hột gồm Thực vật
hột trần (Gymnosperm) và Thực vật
hột kín (Angiosperm).
a.
Thực vật hột trần
Thực
vật hột trần có lẻ
tiến hóa từ những tổ tiên
Tiền hột trần (progymnosperm), có thân
giống Tùng bách nhưng lá giống Dương
xĩ, đă bị tiệt chủng từ
kỷ Thạch thán.
Những Tiền hột trần này c̣n
có tên là Dương xĩ có hột v́
hột được sinh ra trên những lá
giống bào tử diệp của Dương
xĩ. Từ
nhóm này có lẻ tiến hóa cho ra nhiều
nhánh trong đó có nhóm Thiên tuế với
lá giống Dương xĩ và nhóm Tùng Bách
với lá kim hay vảy.
*
Nhóm Thiên tuế và Tùng bách
Thực
vật hột trần là thành phần
thực vật chính của đại Trung
sinh trong đó hai nhóm chính là Thiên tuế
và Tùng bách. Thiên
tuế với thân ngắn, to, thường
không phân nhánh, mang thẹo rất to
của các lá kép.
Tùng bách là những cây thân gỗ, phân
nhánh mang lá kim hay vảy.
Thiên tuế hưng thịnh trong Trung
sinh nguyên đại.
Ngày nay chỉ có 9 giống c̣n
tồn tại ở vùng nhiệt đới
và cận nhiệt đới.
Thường gặp hai loài Thiên
tuế là Vạn tuế (Cycas revoluta)
được trồng như một cây
cảnh quư và Thiên tuế lược
(Cycas pectinata), thường gặp mọc
dại ở Hà Tiên.
Tùng
bách là nhóm hột trần vẫn c̣n
tồn tại với một số lượng
lớn và đa dạng.
Cây thường gặp nhất là Thông
(Pinus), cây của vùng ôn đới.
Một số ở Nam bán cầu như
Vương tùng hay Tùng bách tán (Araucaria), cây
Trắc bá diệp (Thuja) cũng là
những cây cảnh quen thuộc.
* Chu kỳ đời sống của
Thông (H́nh 16)
Bào
tử thực vật là những cây thân
mộc với lá h́nh kim.
Cơ quan sinh
sản là các chùy.
Chùy cái của Thông mang rất
nhiều vảy, mỗi vảy có mang hai noăn.
Mỗi noăn có chứa một mẫu
bào. Mỗi
mẫu bào giảm phân cho ra bốn đại
bào tử (megaspore), ba trong số đó
bị hoại đi.
Chùy
đực mang nhiều tiểu bào tử
diệp, mỗi tiểu bào tử diệp
mang hai tiểu bào
tử nang (túi phấn), bên trong túi
phấn có chứa nhiều mẫu bào,
mỗi mẫu bào gián phân cho ra bốn
tiểu bào tử đơn bội.
Mỗi tiểu bào tử phát
triển thành một hạt phấn hay
một giao tử thực vật đực
có 4 tế bào có vách phồng lên thành túi
khí. Khi túi
phấn mở ra, chúng phóng thích hạt
phấn. Hạt
phấn được đưa đến
noăn nhờ gió, đó là quá tŕnh thụ
phấn: Hạt
phấn đến chùy qua kẻ giữa các
vảy, đến mặt trên vảy và dính
vào các giọt chất nhày do noăn tiết
ra. Khi
giọt nhày khô là hạt phấn đă vào
đến noăn tâm của noăn.
Bên
trong noăn một đại bào tử c̣n
sống sót bắt đầu phân chia
tạo ra giao tử thực vật cái, có
chứa hai hay ba noăn cơ.
Mỗi noăn cơ chứa một
trứng. Ống
phấn, mọc từ hạt phấn
từ từ tiêu hóa noăn tâm (nucellus, mô
của giao tử thực vật cái).
Trong mỗi ống phấn, một
trong bốn nhân phân chia cho ra hai tinh trùng.
Khoảng 12 tháng, khi ống phấn
đến giao tử thực vật cái,
đầu nó vỡ ra và phóng thích hai giao
tử đực, một đi vào noăn cơ
và thụ tinh với trứng, một
hoại đi. Kết
quả của sự thụ tinh tạo ra
hợp tử lưỡng tướng; nhân
phân cắt nhiều lần có thể
tạo ra đến 2.000 nhân tự do, sau
đó là sự
phân chia tế bào chất và phôi
được thành lập.
Khi phôi tăng trưởng chất
dinh dưỡng được cung cấp
từ giao tử thực vật cái.
Sau thời gian tăng trưởng
ngắn là thời kỳ ngũ của phôi.
Cùng lúc đó, vỏ dày và cứng
để h́nh thành vỏ hột.
Lúc bấy giờ noăn đă trở
thành hột.
Hột thông từ 18 - 20 tháng sau khi
thụ phấn được phát tán.
Mỗi hột có một cánh có
nguồn gốc từ vảy của chùy
thông là phương tiện cho hột phát
tán nhờ gió.
Ngay sau khi nẩy mầm, cây con có
thể quang hợp được.
*
Bạch quả
Bạch
quả (Ginkgo biloba) (H́nh 17) là loài duy
nhất c̣n đến ngày nay của nhóm
hột trần này, cây có nguồn gốc
từ Trung Quốc.
Lá và hột không giống hầu
hết hột trần khác.
Lá có h́nh quạt,
hột có h́nh bông vụ.
Mặc dù là cây được ưa
chuộng và cho bóng mát, nhưng cây cái thường
ít được trồng v́ hột
rụng trên mặt đất, và khi phân
hủy cho ra mùi thối. Cây đực
được trồng bằng giâm cành.
*
Nhóm Dây gấm
Nhóm
này tuy có ba giống h́nh dạng khác nhau nhưng
sinh sản giống nhau: giống Welwitschia
(Hai lá) sống ở vùng bờ biển khô
hạn Nam Phi, với một thân gỗ
nằm dưới đất và chỉ có
hai lá trong suốt đời sống
của cây (H́nh 18); lá tiếp tục tăng
trưởng có thể dài nhiều mét và
bị tưa ra khi lá già.
Chùy sinh sản của chúng giống
như Gnetum (Dây
Gấm) (H́nh 19) và Ephedra (Ma hoàng).
Dây Gấm là cây gỗ hay dây leo
với lá giống cây hột kín.
Ma hoàng là bụi mọc ở vùng khô
có lá nhỏ, là nguồn ephedrin tân dược
liệu. Dây
Gấm là ngành duy nhất của thực
vật hột trần có mạch gỗ
tiến hóa tương tự ở cây
hột kín. Một
số nhà thực vật cho rằng có
lẻ từ nhóm này cho ra những cây
hột kín, nhưng c̣n thiếu dữ
liệu để chứng minh.
b.
Thực vật hột kín
Thực vật hột kín những cây
thành công nhất trên đất liền.
Chúng gồm những thực vật
thủy sinh, thân cỏ, thân bụi, dây leo
và những cây gỗ.
Thích nghi được với các mùa
của vùng khí hậu lạnh.
Cây nhất niên (annual hay monocarpic
plant), hoàn tất chu kỳ đời
sống và chết đi trong một năm;
cây nhị niên (biennial) trong hai năm và cây
đa niên (perennial) kéo dài đời
sống từ năm này sang năm khác và
sinh sản hàng năm.
Cây đa niên có thể thân gỗ
với phần trên đẩt và chồi
giúp chúng tồn tại trong mùa không
thuận lợi; hay những phần khí
sinh chết đi và những phần
nằm dưới đất như căn
hành, hành, thân củ vẫn sống, giúp
những loài cỏ đa niên sống
được qua mùa đông.
Một số những thích nghi khác giúp
thực vật hột kín sống
được ở những môi trường
khác nhau như vùng nhiệt đới, sa
mạc, đài nguyên.
Một số cây trở lại
sống trong nước; một số khác
như Tơ hồng mất khả năng
tạo diệp lục và kư sinh trên cây khác.
Một nhóm khác là những cây
bắt côn trùng, thích nghi với vùng đầm
lầy; nơi đây môi trường
hiếm khí và pH thấp nên cản trở
sự phân giải hợp chất hữu cơ,
và nguồn đạm rất giới
hạn cho nên cây có lá biến đổi
để bắt côn trùng và tiêu hóa protein
để giải phóng acid amin cung cấp
cho cây.
Sự đa dạng của Thực
vật hột kín cho thấy đây là nhóm
thực vật tiến hóa gần đây
nhất. Không
có dấu vết của thực vật
hột kín trước Phấn kỷ.
Nguồn gốc của chúng vẫn c̣n
được tiếp tục nghiên
cứu.
*
Chu kỳ đời sống của
Thực vật hột kín (H́nh 20)
Bào
tử thực vật rất đa
dạng, thân gỗ, thân cỏ... Cơ
quan sinh sản là hoa.
+ Sự phát triển của noăn: sinh
ra đại bào tử và giao tử
thực vật cái.
Bên
trong bầu noăn của nhụy cái có
chứa một hay nhiều noăn.
Noăn gồm một đại bào
tử nang hay noăn tâm (nucellus) có chứa
một mẫu bào.
Bao bọc bên ngoài noăn tâm là hai
lớp b́ (integument).
Mẫu bào giảm phân tạo ra
bốn đại bào tử, ba trong số
đó hoại đi, chỉ c̣n một
đại bào tử tiếp tục phát
triển cho ra giao tử thực vật cái
(ở một số loài cả bốn
tế bào tham gia thành lập giao tử cái).
Đại bào tử gián phân tạo ra 8
nhân, sau đó các nhân sắp xếp
vị trí lại.
Ở phía noăn khổng (lỗ noăn), nơi
ống phấn đi vào noăn, là hai trợ
cầu (synergid cell) và một tế bào
trứng (egg). Đối
diện là ba đối cầu (antipodal
cell) thường không tham gia vào sự sinh
sản. Hai
nhân cực (polar nuclei), mỗi nhân từ
mỗi cực di chuyển vào trung tâm
tạo ra tế bào trung tâm,
to nhất có chứa hai nhân đơn
bội. Giai
đoạn bảy tế bào này được
gọi là túi phôi (thế hệ giao tử
thực vật cái).
+ Sự phát triển của hạt
phấn: sinh ra tiểu bào tử và giao
tử thực vật đực. Bao
phấn có bốn thùy, trong mỗi thùy là
một tiểu bào tử nang có chứa
một số mẫu bào được bao
quanh bởi lớp dưỡng tầng
(tapetum). Mẫu
bào giảm phân tạo ra bốn tiểu bào
tử. Mỗi
tiểu bào tử gián phân tạo ra
một giao tử thực vật đực
hai tế bào hay một tế bào với
hai nhân được gọi là hạt
phấn. Hạt
phấn phát tán và rơi trên nướm
của nhụy cái qua quá tŕnh thụ
phấn. Ống
phấn mọc dài đi xuống ṿi, vào
noăn, xuyên qua noăn khổng và noăn tâm vào
đến trợ cầu.
Trong các thí nghiệm nuôi cấy cho
thấy ống phấn mọc cong xuống
theo hóa hướng động từ noăn.
Nhân sinh dục của hạt phấn
phân chia tạo ra hai tinh trùng.
Các tinh trùng theo nhân dinh dưỡng vào
ống phấn và được phóng thích
vào trợ cầu.
Vách trợ cầu có một bộ
phận h́nh sợi (filiform apparatus) có
lẻ có vai tṛ trong sự thụ tinh.
+ Sự thụ tinh đôi và sự phát
triển của phôi.
Một tinh trùng phối hợp
với trứng tạo ra hợp tử
(2n), một tinh trùng phối hợp với
hai nhân cực của tế bào trung tâm
tạo ra nhân tam bội.
Quá tŕnh này được gọi là
sự thụ tinh đôi.
Nhân tam bội phân chia tạo ra
một mô mới là phôi nhũ, cung cấp
chất dinh dưỡng cho phôi phát
triển. Hợp
tử phát triển thành phôi, ban đầu
là tiền phôi (proembryo), gồm một
khối tế bào h́nh cầu và một dây
treo ở đáy.
Trong lúc phôi phát triển, dây treo
giử cho phôi ở trong chất dinh dưỡng
của phôi nhũ.
Khi phôi trưởng thành gồm có
một trục hạ diệp với
rễ ở tận cùng, một trục thượng
diệp với đỉnh ngọn thân;
ở giữa là một hay hai tử
diệp. Hai
lớp b́ phân hóa thành vỏ hột bao
bọc phôi. Noăn
trở thành hột, cùng lúc đó bầu
noăn phát triển thành quả.
*
Nguồn gốc và sự tiến hóa
của Thực vật hột kín
+ Nguồn gốc của Thực
vật hột kín.
Sự tiến hóa của Thực
vật hột kín vẫn là điều
hấp dẫn các nhà thực vật nghiên
cứu, không những v́ chúng mới
xuất hiện gần đây và đa
dạng hóa rất nhanh mà c̣n v́ sự
hiểu biết về tổ tiên của chúng
c̣n quá ít. Hóa
thạch đầu tiên của thực
vật hột kín t́m thấy vào Phấn
kỷ. Những
hóa thạch này gồm hạt phấn, lá
và gỗ với mạch gỗ được
t́m thấy ở vùng đồng bằng
ven biển Đại Tây Dương của
New Jersey và vùng lân cận của Washington,
D. C. và
ở Anh, Brazil, Phi Châu, Israel và lục
địa Châu Âu.
Sự phân bố địa lư
của những hóa thạch chứng
tỏ rằng thực vật hột kín có
nguồn gốc ở vùng nhiệt đới
và cận nhiệt đới và lan dần
ra các vùng cực.
Thời
gian đầu của sự tiến hóa
của Thực vật hột kín trùng
với thời gian tách vùng đất nguyên
thủy thành các lục địa
(thuyết trôi dạt lục địa).
Uíng hộ mạnh mẻ cho thuyết
này là sự phân bố của những
họ thực vật ở những
lục địa khác nhau ngày nay đă
được ngăn cách bởi các đại
dương. Sự
giống nhau giữa thực vật chúng
(flora) của miền đông Brazil và
miền tây Phi Châu cho thấy rằng
những lục địa này trước
đây đă tiếp giáp nhau.
Do lục địa bị tách
rời ra thực vật chúng cùng nguồn
gốc bị tiếp tục tiến hóa
độc lập nhau dẫn đến
sự khác biệt của những thực
vật chúng trên các lục địa khác
nhau.
Cuối
Phấn kỷ, hầu hết những
họ thực vật hiện tại đều
t́m gặp trong hóa thạch, có lẻ
thực vật chúng hiện nay đă
tiến hóa từ thời Pliocene cách nay
bảy triệu năm.
+
Sự tiến hóa trong Thực vật
hột kín. Nghiên
cứu về h́nh thái và giải
phẩu so sánh giúp t́m ra mối quan hệ
họ hàng và hướng tiến hóa
của thực vật hột kín.
Thí dụ, nghiên cứu giải
phẩu gỗ có thể biết được
những loài cổ lổ và tiến hóa.
Thực vật cổ lổ với
cấu trúc sợi mạch dài và hẹp,
thực vật tiến hóa hơn có
mạch gỗ ngắn và rộng.
H́nh thái của hoa cũng là đặc
điểm tiến hóa.
Các bằng chứng hóa thạch
về cấu tạo gỗ, h́nh thái
của hoa và hạt phấn đưa
đến giả thuyết hoa cổ
lổ nhất thuộc những cây gỗ
bộ Mao cấn (Ranales), có nguồn
gốc từ những đảo nhiệt
đới của Thái B́nh Dương,
họ quen thuộc là́ Ngọc Lan
(Magnoliaceae)). Một
số loài của họ không có mạch
dẫn, mô gỗ gồm các tế bào
sợi mạch, nên có lẻ có nguồn
gốc từ những Thực vật có
mạch bậc thấp và cũng theo
thuyết này các hoa cổ lổ là các thân
thu ngắn lại với các phần
tử do lá tiến hóa mà thành.
Sự đa dạng và thích nghi cao
độ của những Thực vật
hột kín giúp chúng chiếm ngự môi trường
mới và trở thành thực vật ưu
thế trên trái đất, với các
kiểu di truyền hết sức đa
dạng. Sự
đa dạng về kiểu gen trong một
quần thể được tăng cường
chủ yếu là do sự thụ tinh chéo.
Ở Thực vật hột kín, có
nhiều h́nh thức tiến hóa giúp
thực vật gia tăng sự thụ
phấn chéo và ngăn trở sự tự
thụ phấn.
Các h́nh thức đó có thể là
sự ngăn cách giữa bộ nhụy
đực và bộ nhụy cái của hoa,
tiểu nhụy và nhụy chín ở các
thời gian khác nhau và những cơ
chế di truyền không tương thích ngăn
cản hạt phấn của một cây
mọc trên nhụy của cùng cây đó.
Quan trọng trong cơ chế thụ
phấn chéo là sự đồng tiến hóa
(coevolution) của một số động
vật, đặc biệt là côn trùng.
Côn trùng, cũng như chim và dơi
bị quyến rũ bởi phấn hoa và
mật hoa cũng như màu sắc và các
kiểu sắp xếp của hoa.
Khi đi từ hoa này đến hoa khác,
các động vật này sẽ mang
hạt phấn từ hoa này đến hoa
khác. Trước
đây các nhà thực vật học thường
nghỉ rằng những thực vật
thụ phấn nhờ gió xuất hiện
trước tiên như ở thực
vật hột trần, nhưng quan điểm
hiện nay th́ những thực vật
hột kín đầu tiên thụ phấn
nhờ côn trùng, đặc biệt là
nhờ các bọ cánh cứng (beetle).
Một số thích nghi về sự
thụ phấn có liên quan đến
sự thay đổi trong cấu trúc
của hoa và côn trùng.
Các cây thụ phấn nhờ gió
phải tạo ra một số lượng
hạt phấn vô cùng lớn (có thể gây
dị ứng) nướm phải lộ ra
ngoài hay có thêm lông để giử
hạt phấn lại.
Hạt phấn với các chạm
trổ tinh vi thường có thể dùng
để định danh một giống
hay ngay cả một loài tạo ra chúng.
Các nhà phấn hoa học (palynologist)
nghiên cứu hạt phấn hóa thạch
trong các đầm lầy hay trong các
trầm tích cổ, đă xác định
được
thực vật đă hiện diện
trong quá khứ.
Các bằng chứng về hóa
chất cho phả hệ (phylogeny).
Trong những năm gần đây, thêm
một tiêu chuẩn để phân loại
thực vật là hóa phân loại
(chemotaxonomy), nghiên cứu các hóa chất
tự nhiên trong cây như alkaloid, terpene và
phenolic. Thêm
vào cách phân tích những hợp chất
hữu cơ, phương pháp miễn
dịch học dùng những kháng nguyên trích
từ hột, hạt phấn và lá,
phản ứng với những kháng
thể để xác định những
điểm tương đồng.
Tŕnh tự của các acid amin trong
những phân tử protein cytochrome c và
sự lai của những acid nhân cũng
được dùng để xác định
môiú quan hệ họ hàng giữa các loài.
Hiện nay có một kỷ thuật
để đánh giá quan hệ họ hàng
bằng cách căn cứ vào ADN của ty
thể và lục lạp.
Dùng các enzim cắt giới hạn
để cắt ADN của ty thể và
lục lạp của từng loài.
Khi một đoạn ADN của
một loài được so sánh với
ADN những loài khác sau khi tách bằng
điện di, mối quan hệ họ hàng
giữa chúng sẽ được phát
hiện. Càng
nhiều các dăy trên gel giống nhau th́ hai
loài càng gần gủi về mặt di
truyền.
Sử
dụng nhiều phương pháp khác nhau,
các nhà phân loại học cố gắng xây
dựng một cây phả hệ cho sự
tiến hóa của các họ thực
vật hột kín.
Cây tiến hóa có rất nhiều nhánh,
và không có đầy đủ những
bằng chứng hóa thạch th́ các nhánh
không thể nối tiếp với nhau
được.
Hơn nữa, trong việc xây
dựng lại cây phả hệ điều
cần lưu ư là những bằng
chứng đến từ các họ
thực vật hiện tại, được
tiến hóa từ một tổ tiên chung
chứ không phải là giữa chúng
với nhau .
*
Hai lớp thực vật hột kín
Thực
vật hột kín được chia làm
hai lơp là Đơn tử diệp
(monocotyledon hay monocot) và Song tử diệp
(dicotyledon hay dicot).
Sự phân biệt dựa trên đặc
điểm chính là số tử diệp và
những đặc điểm khác.
+
Lớp Song tử diệp (Dicotyledoneae)
Hầu
hết các cây Song tử diệp đều
có mạch trừ các đại diện
thuộc bộ Ngọc lan (Magnoliales), mô
gỗ gồm các sợi mạch.
Rễ theo kiểu rễ trụ.
Lá thường có cuống và gân h́nh
lông chim hay chân vịt.
Cây có tăng trưởng thứ
cấp do sự hoạt động của
các tượng tầng.
Cấu tạo hoa theo kiểu ngũ phân
(năm lá đài, năm cánh hoa...) hay
tứ phân (bốn lá đài, bốn cánh
hoa...). Hột
với hai tử diệp ở trong phôi.
Các
đại diện của bộ Ngọc
lan, thuờng gặp các cây thân gỗ như
Dạ hợp (Magnolia) hay Sứ ngọc lan
(Michelia). Hoa
đều với nhiều phần tử.
Ở Sứ ngọc lan hoa với
đài là một bao, tràng có từ 9 đến
12 cánh hoa, bộ nhụy đực với
rất nhiều tiểu nhụy và bộ
nhụy cái với nhiều nhụy
rời.
Tiến hóa hơn có thể kể các
cây thuộc bộ Đậu (Fabales), với
thân đa dạng.
Các đại diện thường
gặp như các loài So đủa, Điên
điển (Sesbania), Điệp cúng
(Caesalpinia) với thân gô,ù các loài Mắc
cở (Mimosa) với thân cỏ; hay các loài
Đậu là những dây leo.
Hoa có đối xứng hai bên, khi hoa
nở trông như con bướm, thường
chỉ có hai lá đài, năm cánh hoa, mười
tiểu nhụy và một nhụy.
Các loài tiến hóa nhất là các
đại diện thuộc bộ Cúc
(Asterales), hầu hết là cây thân cỏ,
nhất niên. Hoa
thường tập trung thành hoa đầu
với nhiều hoa nhỏ mọc trên cùng
một cuống hoa.
Thường gặp các loài cây
cảnh như các loài Cúc, Vạn thọ
(Tagetes), Hướng dương
(Helianthes)...
+
Lớp Đơn tử diệp (Monocotyledoneae)
Các
Thực vật hột kín thuộc lớp
Đơn tử diệp là những cây thân
cỏ hay thân gỗ kiểu Cau, Dừa.
Rễ theo kiểu rễ chùm.
Lá thường không có cuống mà có
bẹ to ôm lóng thân.
Lá thường có gân song song theo
chiều dọc của lá.
Cấu tạo của hoa theo kiểu
tam phân (ba lá đài, ba cánh hoa... hay một
bội số của ba).
Trái với hột chỉ có một
tử diệp trong phôi.
Các bằng chứng về giải
phẩu học chứng tỏ rằng các
Đơn tử diệp xuất phát từ
những Song tử diệp cổ lổ và
tiến hóa lên.
Các
đại diện cổ lổ nhất
của cây Hôût kín Đơn tử diệp
thuộc bộ Từ cô (Alismales) với các
đại diện như Từ cô (Alisma),
Rau mác (Sagittaria) với cấu tạo hoa
gồm nhiều phần tử.
Tiến hóa nhất là các đại
diện thuộc bộ Lan (Orchidales) với
hoa có đối xứng hai bên, cấu
tạo hoa phức tạp theo kiểu
thụ phấn nhờ côn trùng, gồm
nhiều cây cảnh quư như Catleya,
Dendrobium... Bộ
Lúa (Poales) với hoa đơn giản theo
kiểu thụ phấn nhờ gió, các
phần tử lá đài, cánh hoa tiêu
giảm chỉ c̣n là các vảy hay không c̣n,
như ở hoa Lúa (Oryza), Bắp (Zea).
Bộ Cau dừa (Arecales) với các cây
thân cột đặc trưng có kích thước
lớn, hoa thường tập họp thành
buồng với mo bao phủ như Dừa
(Cocos), Cau (Areca)...
*
Tầm quan trọng về kinh tế
của thực vật hột kín.
Vô
số nhu cầu của chúng ta được
Thực vật hột kín cung cấp.
Ngành thực vật
học kinh tế (economic botany) nghiên
cứu lảnh vực này. Thực vật
hột kín là nguồn thực phẩm
thiết yếu cho con người.
Chúng cũng cung cấp những
sản phẩm thứ cấp như
giấy, vải, sáp, dầu, tanin, chất
sát trùng, alkaloid, dược phẩm,
thức uống, gia vị và thuốc lá.
Các
nhóm Tảo phân biệt với nhau dựa
vào đặc điểm sắc tố và
một số đặc điểm sinh hóa,
h́nh thái và sinh sản bắt nguồn
từ vi khuẩn lam.
Nhiều Tảo nâu là những
Tảo biển rất lớn, Tảo đỏ
hầu hết
cũng là ở biển với tổ
chức tế bào và cách sinh sản độc
đáo. Cả
hai nhóm là nguồn thực phẩm và
những sản phẩm hửu dụng. Khuê
tảo là những sinh vật đặc
biệt với vách silic.
Những Song chiên tảo có chiên mao làm
chúng quay tṛn. Những
nguyên sinh vật này gây ra hiện tượng
nở hoa độc tố, đôi khi gây
độc cho người bơi lội và
những người ăn hải sản.
Tảo lục với nhiều
dạng và giao tử cũng như chu
kỳ đời sống rất biến
thiên. Sự
xen kẻ thế hệ, một kiểu chu
kỳ đời sống ở một
số Tảo lục, trở thành một
kiểu mẫu của thực vật đất
liền, nên người ta nghĩ rằng
có lẻ chúng tiến hóa từ Tảo
lục.
Hai nhóm thực vật đất
liền là: Đài thực vật và những
Thực vật có mạch.
Đài thực vật gồm Rêu và Rêu
tản, có kích thước giới
hạn, sự sinh sản và phân bố
lệ thuộc vào nước, giao tử
thực vật ưu thế hơn trong chu
kỳ đời sống của nó.
Giao tử thực vật quang hợp
được không có mô dẫn truyền
chuyên biệt nên chúng mọc từng đám
hay ḅ sát mặt đất để
lấy nước.
Giao tử đực di động và
bơi lội đến cơ quan sinh
sản cái có chứa trứng.
Bào tử thực vật nhỏ hơn
và được mang bởi giao tử
thực vật, chức năng của nó là
sinh sản và phát tán bào tử.
Thực vật có mạch đạt
kích thước to hơn Đài thực
vật rất nhiều, nhiều nhóm có cây
kích thước rất lớn, ngay cả
những thực vật trong quá khứ.
Chúng đạt được kích thước
lớn là nhờ có mô dẫn truyền.
Thế hệ ưu thế trong chu
kỳ đời sống là bào tử
thực vật, thế hệ lưỡng
bội, do sự đa dạng về di
truyền, thúc đẩy nhanh sự
tiến hóa. Một
số nhóm thực vật có mạch
bậc thấp tiến hóa từ những
Tùng diệp không có lá và không có rễ
xuất hiện vào kỷ Si lua (Silurien). Mặc
dù rất dồi dào ở kỷ Thạch
thán, một số giống cổ của
thực vật có mạch bậc thấp
như Thạch tùng, Mộc tặc và Dương
xĩ vẫn c̣n tồn tại đến
ngày nay.
Thực vật có hột tiến hóa
từ những thực vật có mạch
bậc thấp.
Nhóm hột trần xuất hiện
sớm vào kỷ Đề vôn và phát
triển cực thịnh vào Trung sinh nguyên
đại. Một
số ngày nay đă bị tiệt
chủng, số c̣n lại tồn tại
với số lượng loài giới
hạn. Thiên
tuế, những cây có lá rộng giống
dương xĩ và thân cột ngắn,
tạo ra chùy và hiện nay chỉ c̣n chín
giống. Ginkgo
biloba, một cây cho bóng mát, loài duy
nhất c̣n sống sót trong khi những loài
khác đă bị tiệt chủng. Tùng bách
là nhóm dồi dào và quen thuộc nhất,
là những thực vật cho gỗ và là
những cây cảnh ở Bắc bán
cầu và Nam bán cầu.
Dây Gấm với ba giống đặc
biệt, vị trí tiến hóa chưa xác
định.
Thực vật tiến hóa nhất là
Thực vật hột kín, hóa thạch
chỉ t́m thấy ở Phấn kỷ .
Chúng tiến hóa nhanh chóng và v́
lục địa trôi dạt giúp chúng
đa dạng và phân bố trên khắp trái
đất. Hoa
và quá tŕnh sinh sản của chúng giúp chúng
đa dạng có tác động của
chọn lọc tự nhiên.
Thực vật hột kín chiếm
ngự môi trường đất liền
và một số môi trường nước,
chúng là nguồn thực phẩm đầu
tiên cho tất cả động vật
kể cả con người.
Con người đă sớm biết
trồng trọt, nhân giống và chọn
lọc chúng theo nhu cầu của ḿnh.
|