|
Màng
tế bào là ranh giới ngăn cách tế bào
sống với môi trường chung quanh nó.
Màng tế bào kiểm soát sự vào ra
của vật chất xuyên qua màng.
Giống như các màng sinh học khác chúng
là màng thấm chọn lọc (selective permeability)
cho phép một số chất đi qua dễ dàng
hơn những chất khác.
Muốn giải thích được tính
thấm chọn lọc của màng tế bào
cần hiểu rõ cấu trúc của màng.
I.
THÀNH PHẦN HÓA HỌC CỦA MÀNG
Thành
phần cấu tạo chính là lipid và protein.
Carbohydrat hiện diện với một
tỉ lệ rất ít.
a.
Phospholipid
Màng
tế bào được cấu tạo bởi
phần lớn là phospholipid.
Phosphatidylcholin, là một loại phospholipid
hầu như chỉ tìm thấy ở nửa
lớp ngoài của màng, gồm có một đầu
phân cực (cholin mang điện tích dương,
phosphat mang điện tích âm và một glycerol không
phân cực) được nối với hai
sợi acid béo kỵ nước, nếp gấp
trong đuôi bên phải tạo ra do nối đôi
(Hình 2.1); như vậy đuôi chưa bảo hòa,
phospholipid như vậy sẽ ít gắn chặt
với nhau và nhờ thế màng sẽ linh động
hơn.
Hình
1. Phosphatidylcholin
b. Cholesterol
Cholesterol
có tác dụng ngăn cách hai phân tử
phospholipid, nếu không các đuôi phospholipid
sẽ dính vào nhau gây tình trạng bất động,
hậu quả là sẽ làm cho màng ít linh động
và trở nên cứng rắn (Hình 2).
Hàm lượng cholesterol thay đổi
rất lớn theo loại tế bào, màng của
nhiều loại tế bào chứa số phân
tử cholesterol gần như bằng số phân
tử phospholipid, trong khi một số loại màng
khác gần như hoàn toàn Hình 2.
Cholesterol trong màng phospholipid
không có cholesterol.
Trung
bình protein chiếm 50% trọng lượng các phân
tử cấu tạo màng.
Do phân tử lipid nhỏ hơn phân tử
protein nên nếu protein chiếm 50% trọng lượng
thì số phân tử lipid nhiều gấp 50
lần số phân tử protein.
Tuy nhiên, protein ở màng myelin của tế
bào thần kinh chỉ chiếm khoảng 25% hay có
thể lên đến 75% ở màng trong của ty
thể và lục lạp.
Trong
màng tế bào có chứa hai loại protein,
được phân biệt tùy theo cách sắp
xếp của chúng trong màng:
*
Protein ngoại vi (peripheral protein)
Protein
gắn vào đầu phân cực của phân
tử phospholipid, do đó có thể thay đổi
vị trí và có thể bị lấy mất
đi do một tác nhân nào đó (như các
chất có chứa nhiều muối).
Chiều dày của màng tùy thuộc sự
hiện diện vào các protein này, màng sinh
chất dày nhất 9 nm, màng của mạng
nội chất mỏng nhất 6 nm.
Ngoài ra, sự hiện diện của các
protein ngoại vi này làm cho cấu trúc màng có tính
bất xứng (asymmetry).
*
Protein hội nhập (Integral protein)
Protein
hội nhập có thể có vài kiểu sắp
xếp: protein có thể chỉ tương tác
với vùng kỵ nước của các
phospholipid, một số protein hội nhập có
thể xuyên qua màng được gọi là
protein xuyên màng (transmembrane protein). Trong cách
sắp xếp, protein với các acid amin ưa nước
được đưa ra ngoài, nơi có
thể tiếp xúc với
Hình
3. Protein trong màng
nước (đầu phân cực hay acid
amin có gốc R có điện tích dương),
ngược lại những acid amin kỵ nước
(không phân cực) được chôn trong màng
đôi lipid (Hình 3). Vị
trí của những acid amin ưa nước và
kỵ nước của protein sẽ giúp cho
protein hội nhập một phần vào màng hay
xuyên màng. Protein
hội nhập chỉ được tách ra khi làm
vỡ màng và sau đó xử lý bằng các
chất tẩy.
Các
carbohydrat thường gắn vào các protein
ngoại vi tạo ra glycoprotein hay gắn vào các
phân tử phospholipid màng tạo ra glycolipid và thường
chỉ chiếm 2
- 10% thành phần cấu tạo.
Carbohydrat không có trên màng ở phía tế bào
chất, các phân tử carbohydrat này tạo ra
glycocalyx, lớp vỏ bao ngoài tế bào (cell
coat). Carbohydrat
hiện diện ở bên trong của các bào quan
trong tế bào (ở trong lumen).
Sự hiện diện của các carbohydrat
trên màng sinh chất cũng tạo ra tính bất
xứng trong cấu trúc của màng.
II.
MÔ HÌNH CẤU TRÚC DÒNG KHẢM (The fluid-mosaic
model)
Các
nhà nghiên cứu từ nhiều thập kỷ trước
đã cố gắng tìm hiểu và đưa ra
mô hình về cấu trúc màng tế bào.
Vì sự hiểu biết về cấu trúc
màng là chìa khóa để hiểu được
chức năng của màng tế bào.
Khoảng 1930 J. F. Danielli (đại học
Princeton) và H. Davson (đại học ở
London), đưa ra mô hình cấu trúc màng
gồm màng với hai lớp phospholipid với
đầu ưa nước (phân cực)
đưa ra hai bề mặt của màng và các
đuôi kỵ nước, (không phân cực) chôn
bên trong tránh nước.
Cấu trúc dựa trên sự tương tác
giữa tính kỵ nước và ưa nước
làm cho màng rất bền vững và đàn
hồi.
Cấu trúc này tương tự như khi
trộn các phân tử phospholipid với nước,
các phân tử phospholipid sẽ sắp xếp
lại tạo ra các khối rổng giống như
thể lipo (liposome) gồm hai lớp phospholipid (Hình
4).
Hình 4. Thể
lipo
Mặc dù mô hình trên giải thích
được tính bênö vững, linh động
của màng và đặc biệt là cho các
chất lipid đi qua lại màng một cách
dễ dàng nhưng mô hình trên không giải thích
được tính thấm chọn lọc
của màng đối với một số ion và
một số hợp chất hữu cơ.
Sau đó hai ông đề nghị thêm là
cả hai mặt của màng được bao
bọc bởi protein, mang điện tích, các phân
tử protein viền quanh các lỗ, giúp cho
những phân tử nhỏ và một số ion
xuyên qua được.
Nhiều bằng chứng cho thấy mô hình
này hiện nay không còn đúng nữa.
Hình
5. Mô hình
cấu trúc dòng khảm của màng tế bào
1972
S. J. Singer ở đại học California (San
Diego) và G. L. Nicolson (Salk Institude) đưa ra mô hình
dòng khảm, một giả thuyết hiện nay
được mọi nơi chấp nhận.
Mô hình này là sự hợp nhất của
mô hình màng của Danielli-Davson.
Tuy nhiên, trong mô hình dòng khảm sự
sắp xếp của protein rất khác biệt.
Thay vì protein phủ hai bên màng, có những
phân tử protein chuyên biệt gắn vào màng
(trong mục 2.1.2), đảm nhận các chức
năng đặc biệt.
Trong hình 5 hai lớp lipid trong đó phần
lớn là phospholipid tạo ra phần chính liên
tục của màng, ở màng của sinh vật
bậc cao có thêm cholesterol.
Protein với nhiều kiểu sắp
xếp khác nhau: một số được
gọi là protein ngoại vi nằm trên bề
mặt của màng, nối với các lipid
bằng cầu nối cộng hóa trị;
một số khác được gọi là
protein hội nhập, gắn một phần hay
toàn phần vào màng lipid, một số khác xuyên
màng.
Tính linh động của màng là do các phân
tử lipid có thể di chuyển qua lại, tính
khảm để chỉ sự sắp xếp
của các phân tử protein trên màng hay xuyên màng.
Trong hình 6 mô tả thí nghiệm trộn
lẫn tế bào của người và
chuột, dùng các kháng thể
đánh dấu với flourescein cho protein màng
của chuột và rhodamin cho protein màng của người.
Khi dung hợp tế bào, hai loại protein
ở hai phía khác nhau, nhưng sau khi ủ 40 phút
ở 37oC hai màng thống nhất lại thành
một màng liên tục và hai loại protein thì
xếp xen kẻ nhau.
Các protein được nhận ra với kính
hiển vi huỳnh quang.
Các phân tử lipid màng ở tế bào vi
khuẩn có thể được kéo dài ra đến
2,5 (m từ 1-đến 2 giây.
Một số protein có thể di chuyển
qua lại từ phía này sang phía khác của màng,
một số bất động do gắn
chặt tạo thành sợi hay tạo thành
ống. Các phân
tử lipid và protein cũng có thể
xoay tròn hay lật ngược, dẹp
xuống (flip-flop) tương đối dễ dàng.
Hình
6. Thí nghiệm
chứng minh tính dòng khảm của lipid và
protein
III.
KÊNH TRÊN MÀNG TẾ BÀO
Như đã biết, màng tế bào do chính
phospholipid của tế bào tạo ra.
Màng tuy linh động nhưng là màng
chắn hiệu quả giữa bên trong và bên ngoài
tế bào. Thành
phần lipid trong màng rất cao, điều
đó giải thích được tại
sao những phân tử hòa tan
trong lipid có thể khuếch tán vào ra
dễ dàng, nhưng đối với một
số chất không hòa tan trong lipid phải tùy
thuộc vào các protein trên màng đôi lipid.
Nhờ vào các protein trên màng một số
chất có thể đi qua màng một cách
dễ dàng ngược lại với khuynh độ
(gradient) nồng độ
của nó.
Màng
có tính chọn lọc rất cao.
Tính chọn lọc này trên từng phần
của tế bào là do các tác nhân tải (hay
chất vận chuyển) là những protein
hoạt động như enzim.
Bây giờ người ta biết được
những yếu tố vận chuyển, kiểm
soát sự qua lại của các phân tử qua màng
là những kênh và những bơm chuyên biệt.
Mỗi loại kinh hay bơm tùy thuộc vào
protein màng cho một số hóa chất đặc
biệt xuyên qua nên được gọi chung là
permeaz.
a.
Kênh khuếch tán (Hình 7)
Là
kiểu kênh đơn giản nhất trong
sự vận chuyển thụ động
nhờ tính thấm đặc biệt cao của
màng tế bào: chúng cho một số chất
đặc biệt đi qua từ nơi có
nồng độ cao đến nơi có
nồng độ thấp hơn.
Thí dụ kênh protein này cho ion K+, được
tích lũy trong hầu hết tế bào và có
điện tích nên không thể hòa tan trong màng
phospholipid, nhưng kênh đặc biệt dành cho
ion K+ cho phép chúng đi qua một cách từ
từ với nồng
độ
kiểm soát được.
Nếu không có sự đi ra
Hình 7. Kênh
khuếch tán
này nồng độ ion K+ bên trong tế bào
sẽ trở nên rất cao làm ảnh hưởng
đến các chức năng của tế bào.
Sự chuyên biệt của kênh ion K+ là
kết quả của hình dạng bên trong và
điện tích, nhưng còn nhiều chi tiết
về nó chưa được biết rõ.
b.
Kênh ion phối hợp (kênh đồng vận
chuyển) (Hình 8)
Hình
8. Kênh ion
phối hợp
Là
kiểu kênh phức tạp hơn cho hai chất
qua cùng chiều. Thí
dụ, ion Na+ bên ngoài tế bào cao hơn 11
lần. Tuy
vậy Na+ phải có glucoz đi kèm mới xuyên
qua kênh thích hợp trên màng để vào
được bên trong tế bào.
Cả hai phải gắn vào phía ngoài kênh
trước khi kênh được mở ra.
Khi ion Na+ gắn vào kênh, có thể gây ra
một cảm ứng gì đó làm cho glucoz cũng
gắn được vào kênh.
Sự gắn glucoz có thể gây ra một
hậu quả khác, có thể làm đóng kênh
ở phía ngoài màng và mở kênh ra ở phía
trong màng. Sự
thay đổi này, có thể làm cho kênh mất
ái lực đối với glucoz và giải phóng
glucoz cũng như ion Na+ vào bên trong tế bào.
Mất ion Na+ và glucoz làm kênh mở lại
ở phía ngoài màng.
c.
Kênh có cổng (Hình 9)
Hình
9. Kênh có
cổng
Một
kiểu kiểm soát sự di chuyển vật
chất qua màng là nhờ một cổng ngang qua
kênh. Khi một
phân tử tín hiệu, một hormon hay một
chất truyền tải mang thông tin từ
một tế bào thần kinh này sang một
tế bào thần kinh khác, gắn vào một
thụ thể (receptor) là một protein xuyên màng,
lúc đó có sự thay đổi cấu trúc.
Sự thay đổi này làm cho cổng
mở ra, và tín hiệu thứ hai, thường
là một ion như ion Na+ hay Ca++, có thể đi
qua mang thông tin vào trong tế bào.
Kiểu kênh đóng mở này vận
chuyển nhiều thông tin hóa học (chemical
messages) cả ở thực vật và động
vật, các xung thần kinh nhờ đó động
vật cảm nhận thế giới bên ngoài, các
cử động và có lẻ ngay cả suy nghĩ.
d.
Kênh tải cơ động (Hình 10)
Hình
10. Kênh tải cơ
động
Một
kiểu permeaz khác hoạt động như
một chất
tải cơ động (mobile carrier), tải
từng phân tử một.
Chưa có một thí dụ chắc chắn
nào về kiểu permeaz này.
Nhưng valinomycin
hoạt động y như một chất
tải cơ động.
Valinomycin là một đa phân dạng vòng
với đầu kỵ nước ở ngoài và
đầu phân cực ở trong, với 6 nguyên
tử oxy xếp thành hàng có thể giữ
một ion K+. Phức
hợp hoạt động như một quả
lắc qua lại mang ion K+ ở cảí hai hướng.
Sự vận chuyển ion K+ dựa trên
khuynh độ hóa điện: Valinomycin thường
lấy ion K + trong tế bào và phóng thích ra ngoài
một các đơn giản, vì ion này trong
tế bào nhiều hơn ở
ngoài. Valinomycin
không phải là một protein, vì một
đơn vị trong chuỗi peptid của nó không
phải là acid amin. Ðây
là một chất kháng sinh (antibiotic) do một
số vi khuẩn tiết ra để gây độc
cho những vi
sinh vật xung quanh bằng cách làm thay đổi
tính thấm chọn lọc của màng tế bào
của các vi khuẩn này.
Có một vài bằng chứng chứng
tỏ có chất tải cơ động trên
một màng bình thường, nhưng hiện nay
vấn đề vẫn còn nhiều nghi vấn.
thay
đổi tính thấm chọn lọc của màng
tế bào của các vi khuẩn này.
Có một vài bằng chứng chứng
tỏ có chất tải cơ động trên
một màng bình thường, nhưng hiện nay
vấn đề vẫn còn nhiều nghi vấn.
a.
Sự đồng vận chuyển
Là
hiện tượng hai chất cùng được
tải qua kênh đi về một hướng.
Ðây là kiểu vận chuyển quan
trọng xuyên qua màng của glucoz, nguồn năng
lượng quan trọng cho hầu hết tế
bào. Ion Na+ ở
bên ngoài có khuynh độ nồng độ cao
gấp nhiều lần so với bên trong, nên
có xu hướng di
chuyển vào bên trong tế bào.
Nó phải được đồng
vận chuyển với glucoz để đi qua
một kênh thích hợp.
Kênh này không vận chuyển riêng rẻ,
hai chất phải được gắn vào phía
bên ngoài của kênh trước khi kênh
được mở ra.
Vì vậy năng lượng tự do
của ion Na+ do khuynh độ nồng độ
cao có thể được lợi dụng để
tải glucoz ở một nồng độ
nhỏ hơn. Về
mặt nhiệt động học, hai phản
ứng khuếch tán được liên kết
với nhau. Ion
Na+ xuống dốc (downhill) giải phóng năng lượng
tự do nhiều hơn, năng lượng này
được sử dụng để
vận chuyển glucoz lên dốc (uphill), kết
quả là quá trình đồng khuếch tán
diễn ra.
b.
Sự đối vận chuyển
Là
hiện tượng phức tạp hơn,
xảy ra ở những kênh trao đổi ion,
vận chuyển hai ion mang điện tích
giống nhau: trong khi một ion di chuyển vào bên
trong tế bào, một ion khác đi ra, cho nên duy
trì được sự cân bằng điện
tích. Nhiều
protein hội nhập trên màng có thể trao đổi
Cl- với HCO3- (CO2 hòa tan), đây là vai trò
của hồng cầu mang CO2 thải ra từ
tế bào đến phổi.
IV.
BƠM
Một kiểu permeaz khác được
gọi là bơm, không tùy thuộc vào khuynh
độ năng lượng tự do.
Bơm sử dụng năng lượng
dự trử của tế bào để
đưa các chất đi ngược khunh
độ gradient nồng độ của chúng.
Quá trình này được gọi là
sự vận chuyển tích cực (active
transport), điều này quan trọng giúp tống
các chất tích tụ
không hòa tan trong màng và những phân tử
lớn thoát ra khỏi màng.
Trong
kiểu vận chuyển này, bơm sử
dụng năng lượng từ trong tế bào
và giúp vận chuyển các chất ngược
chiều khuynh độ của nó.
Trong trường hợp này, ba ion Na+
được đổi với hai ion K+, cả
hai loại ion này đều có nồng độ
cao nơi chúng sẽ được chuyển
đến.
Trong
mô hình (Hình 11): Hai ion K+ được giải
phóng trong chu kỳ trước đó tiếp
theo là sự gắn vào của ba ion Na+ và
nguồn năng lượng ATP từ trong tế
bào. Hậu
quả cấu trúc protein kênh thay đổi,
mở phía ngoài, giảm ái lực đối
với ion Na+và giải phóng ion Na+; đồng
thời gia tăng ái lực đối với
K+. Sự
gắn của ion K+ làm kênh mở ra ở phía
trong, gia tăng ái lực đối với ion
Na+ và giảm ái lực đối với ion K+ và
chu trình bắt
đầu trở lại.
Kết quả của việc bơm ion này
đưa điện tích dương ra phía
ngoài màng và bên trong màng trở nên âm với bên
ngoài. Ðiện
thế và thẩm thấu sinh ra bởi bơm
Na- K sau cùng có thể phối hợp để
vận chuyển glucoz (Hình 8).
Hình
11. Bơm Na - K
Gradient
nồng độ giải thích được
sự di chuyển kết hợp của ion Na+ và
glucoz qua cùng một kênh, nhưng mức độ
của sự di chuyển
quá lớn không thể giải thích
đơn thuần bằng sự khác biệt
nồng độ xuyên qua màng.
Thật vậy, có một khuynh độ
quan trọng thứ hai hổ trợ khuếch tán
các ion ngược điện tích hấp
dẫn nhau bằng lực tỉnh điện;
trong khi những ion có cùng dấu đẩy nhau.
Do vậy, nếu trong tế bào có nhiều
ion mang điện tích âm hơn những ion mang
điện tích
Hình 12. Khuynh
độ hóa điện
dương, những ion dương sẽ
bị hấp dẫn bởi môi trường
lỏng bao chung quanh nó (hầu hết tế bào
có một tổng điện tích âm chừng 70
milivolt so với chất lỏng bao quanh chúng).
Sự khác biệt về điện tích
xuyên qua màng sinh ra một khuynh độ tỉnh
điện (electrostatic gradient) và khi kênh thích
hợp được mở ra, ion dương có
xu hướng chui vào trong tế bào, trong khi
những ion âm có xu hướng đi ra.
Thí dụ ion Na+, có nồng độ
rất cao ở bên ngoài tế bào, áp suất
thẩm thấu và lực tỉnh điện
kết hợp lại sinh ra một khuynh độ
hóa điện cao (electrochemical gradient) (Hình 12).
Ðây là năng lượng tự do của
sự kết hợp rất có hiệu quả
của ion Na+ để vận chuyển glucoz vào
trong tế bào. Cơ
chế do khuynh độ hóa điện cũng
hiện diện trong bơm Na - K.
|