Cùng với nguồn tài nguyên
đất và nước, Thực vật và Động
vật cũng là loại tài nguyên có khả năng
tái sinh và có vai tṛ quan trọng trong sự tồn
tại và phát triển của con người như
cung cấp nguồn nguyên liệu, nhiên liệu, các
hợp chất hóa học, lương thực và
thực phẩm, bảo vệ sự trong lành
của không khí, chống lại sự xói ṃn
đất đồng thời đáp ứng
được nhiều nhu cầu khác nữa. Do có
vai tṛ quan trọng đó nên việc sử
dụng, bảo vệ và phát triển nguồn tài
nguyên này là một việc làm cấp thiết
đối với mỗi quốc gia hiện nay trên
thế giới.
I. TÀI
NGUYÊN RỪNG
Rừng là một hệ
thống phức tạp bao gồm các yếu
tố lư học, hóa học và sinh học tác
động qua lại với nhau, là một
tổng thể của khí hậu, đất đai,
động vật, thực vật và vi sinh
vật; đó là một siêu cơ thể tiến
hóa tương đối chậm chạp, tham gia
vào các chu tŕnh C, O2, N2, H2O và của nhiều
loại chất khoáng khác. Ngoài ra rừng c̣n có
vai tṛ quan trọng trong việc điều ḥa khí
hậu, giữ nước chống xói ṃn đất,
chống lũ lụt, chống sa mạc hóa,
chắn gió và bảo vệ mùa màng...
a. Rừng với khí
quyển
Khí quyển và sự sống
trên hành tinh là 1 thể thống nhất do
những điều kiện cơ bản trong thành
phần cấu tạo của nó. Thành phần khí
trong khí quyển trên trái đất hầu như
không thay đổi mặc dù chúng liên tục
bị hấp thụ hoặc gắn vào các
kết hợp hóa học trong các chu tŕnh Sinh Địa
Hóa của tự nhiên, đều có vai tṛ đóng
góp của rừng.
Vai tṛ quan trọng nhất
của rừng đối với khí quyển là
sự cung cấp oxy, oxy là nhân tố đặc
biệt quan trọng cho sự tồn tại
của sinh vật. Thành phần oxy trong không khí không
đổi mặc dù oxy liên tục đi vào các
phản ứng oxy hóa dưới nhiều dạng
khác nhau như đảm bảo cho quá tŕnh hô
hấp của động vật và thực
vật, sự biến đổi các hợp
chất hữu cơ và tham gia hàng loạt các
phản ứng hóa học trong tự nhiên.... Lượng
oxy của khí quyển bị mất đi sẽ
được hoàn trả lại bằng con
đường quang hợp của cây xanh. Người
ta tính rằng, hằng năm bằng con đường
quang hợp, cây xanh đă tạo ra khoảng 1011
tấn chất hữu cơ và để thoát ra
ngoài khí quyển một lượng oxy tự do tương
đương như thế; trong số nầy cây
rừng đảm đương phần lớn.
Như vậy rừng là nhân tố chủ yếu
tham gia vào việc giử cán cân oxy trong thành
phần của khí quyển.
Ngoài vai tṛ cung cấp oxy cho khí
quyển, rừng c̣n là màng lọc không khí trong lành
như cản khói bụi, hạn chế nhiều
loại vi khuẩn và siêu vi khuẩn gây hại
cho con người và các động vật. Ngoài
ra rừng c̣n có vai tṛ quan trọng trong sự
điều ḥa khí hậu của quả đất.
V́ vậy, rừng được xem là lá
phổi xanh của quả đất
b. Rừng đối với
đất
Rừng và đất có
mối quan hệ mật thiết với nhau
thể hiện bởi rừng tham gia vào quá tŕnh
h́nh thành và phát triển đất; ngược
lại đất là cơ sở duy tŕ sự
tồn tại và phát triển của rừng.
Hệ thống đất-rừng đảm
nhiệm chức năng quan trọng là yếu
tố tối cần thiết cho sự sống
của con người và các động vật khác.
Rừng lấy chất dinh dưỡng
từ đất để phát triển; các cành,
lá rụng xuống sẽ được các vi
sinh vật phân hủy thành mùn và mùn tiếp
tục được khoáng hoá cho ra những
chất dinh dưỡng mới cung cấp lại
cho cây. Theo sự ước tính, dưới tán lá
rừng thuần loại 5-6 tuổi, th́ lượng
cành, lá rụng hằng năm trung b́nh từ 5-10
tấn/ha tương đương với
khoảng 80-90 kg N2, 8 kg P2O5 và 8 kg K2O (Nguyễn Văn
Trương, 1989).
Quá tŕnh sinh học giữa
đất và rừng là liên tục, đảm
bảo cho độ ph́ nhiêu của đất và
cho cả năng suất sinh học của
rừng. Tuần hoàn sinh học trong hệ sinh thái
rừng sẽ ở trạng thái cân bằng
bền vững nếu như không có sự can
thiệp của con người.
Rừng phản ánh tính
chất của đất: Tùy theo từng loại
đất và điều kiện địa h́nh
khác nhau sẽ h́nh thành nên những loại
rừng khác nhau. Rừng ngập mặn ở vùng
duyên hải có những loài cây khác hẳn
với rừng đồi núi, mặc dù ở
trong cùng một đai khí hậu nhiệt đới.
Thí dụ: ở rừng
ngập mặn chúng ta gặp các loài thực
vật đặc trưng cho đất ngập
mặn mà những thực vật nầy ta không
gặp chúng ở vùng đồi núi... Từ
bờ biển vào nội điạ, đất
cao dần và độ mặn thấp dần nên
các loài thực vật sinh trưởng trên
những vùng đất đó cũng khác nhau: trên
đất lầy ven biển là Mắm, những cây
tiếp đến là Đước, Vẹt vào sâu
nữa là Cốc, Dà và trên đất khô là Chà
là.... Những loài thực vật xác định
tính chất của đất có thể xem là các
thực vật chỉ thị.
Rừng bảo vệ cho
đất chống lại sự xói ṃn: ở
những nơi đất có độ dốc cao
và lượng mưa lớn th́
tốc độ xói ṃn của mưa và của các
ḍng chảy trên mặt đất sẽ càng
lớn. V́ vậy rừng có vai tṛ quan trọng
trong sự bảo vệ lớp đất mặt
chống lại sự xói ṃn do nước và do
gió, v́ lớp cành và lá mục có thể giữ
được nước; thân và rể cây có
khả năng ngăn cản được
phần nào tốc độ của ḍng chảy,
các tàng lá có khả năng chắn gió và phân tán
các hạt nước mưa bảo vệ
được lớp đất mặt tránh
được sự tác động xói ṃn khi
hạt mưa rơi xuống..., như vậy
rừng là cơ cấu hữu hiệu nhất
giữ lại được lớp đất
mặt vốn dể bị cuốn trôi. Do đó
các hoạt động của con người như
phá rừng để lấy gỗ, để
lấy đất canh tác... là nguyên nhân làm cho
đất bị xói ṃn trở thành bạc màu và
hoang hóa.
c. Rừng đối với
mùa màng
Đối với mùa màng,
rừng có vai tṛ trực tiếp hoặc gián
tiếp đến năng suất của cây
trồng và vật nuôi thể hiện ở các
mặt sau:
- Rừng có tác động che
chắn gió, cường độ mưa rơi, cường
độ ḍng chảy... nên hạn chế xói ṃn
đất, bảo toàn được chất dinh
dưỡng trong đất cung cấp cho cây
trồng.
- Rừng cung cấp chất
dinh dưỡng cho đất làm tăng độ
ph́ của đất giúp cho cây trồng phát
triển.
- Rừng giữ nhiệt độ
cho tầng đất mặt và lớp khí
quyển sát với tầng đất mặt,
điều ḥa tiểu khí hậu giúp cho cây
trồng phát triển thuận lợi.
- Rừng điều ḥa
nhiệt độ nên làm giảm sự thoát hơi
nước của cây, sự bốc hơi nước
của đất và giữ lại nước
trong đất giúp cho sự ḥa tan chất dinh dưỡng,
nhờ đó mà rể cây hấp thụ
được dể dàng.
- Rừng ngăn chận
được các luồng gió mạnh, chắn rét
cho đàn gia súc, giúp cho cây trồng tránh
được sự găy đổ.
- Rừng c̣n cung cấp
chất đốt cho việc sấy hoa màu, lương
thực, chế biến thực phẩm...
d. Rừng cung cấp
nguồn gen quư
Trong thập kỷ 80, các nghiên
cứu quốc tế về tài nguyên rừng cho
thấy các tài nguyên động vật và
thực vật quí của nhân loại phần
lớn tập trung ở trong các rừng nhiệt
đới (FAO, 1984), trong đó rừng nhiệt
đới Châu Á có nhiều loại cây và con có
giá trị quí giá nhất hay nói khác đi là
rừng nhiệt đới là một ngân hàng tài
nguyên gen to lớn và đa dạng.
Từ các nghiên cứu đó,
để nâng cao hiệu quả trong sản
xuất nông- lâm nghiệp, các nhà di truyền
học đang tập trung nghiên cứu nguồn tài
nguyên gen thực - động vật nhằm để
phát hiện các gen quư, để bảo tồn và
phát huy những đặc tính di truyền quí giá
của chúng hướng chúng vào việc phục
vụ lợi ích của con người.
Hiện nay do nhu cầu phát
triển kinh tế và xă hội của mỗi
quốc gia mà rừng càng ngày càng bị tàn phá
nặng nề, nhất là các khu rừng nhiệt
đới, nay đă đến mức báo động.
V́ vậy để bảo tồn được
nguồn gen quư hiếm nầy, trước tiên là
phải kêu gọi các quốc gia có nguồn tài
nguyên quí giá đó hăy v́ lợi ích chung của
cả nhân loại mà ra sức bảo vệ để
nguồn gen quư giá đó sẽ trở thành vô giá.
e. Các lợi ích khác của
rừng
Trong các phần tŕnh bày ở
trên cho ta thấy được vai tṛ chung
của rừng trong một số mặt chủ
yếu. Ngoài ra rừng c̣n có nhiều vai tṛ khác
nữa trong cuộc sống của con người:
- Rừng là
nguồn cung cấp gỗ và các sản phẩm
của gỗ: rừng cung cấp gổ được
sử dụng làm vật liệu xây
dựng, vật liệu trang trí, là nguồn cung
cấp các sản phẩm hóa học, cung cấp
sợi dệt, làm bột giấy, lấy tinh
dầu, nhựa cây, thuốc nhuộm...Theo số
liệu của nhiều tài liệu cho thấy b́nh
quân trên toàn thế giới có 45% lượng
gổ khai thác được con người
sử dụng làm chất đốt, 35%dùng cho xây
dựng và trang trí, 12% sử dụng làm bột
giấy và số c̣n lại được sử
dụng cho nhiều nhu cầu khác của con người.
- Rừng là
nguồn cung cấp và điều ḥa nguồn nước
ngọt: ở những vùng có lượng
mưa nhiều; vào mùa mưa, nước mưa
được giử lại trong thảm lá
mục và trong lớp đất tơi xốp
rồi trực di xuống các tầng đất sâu
hơn h́nh thành nên những mạch nước
ngầm, nên ta có thể xem rừng là kho dự
trử nước và điều phối nguồn
nước ngọt cho nhu cầu sinh hoạt và các
hoạt động nông nghiệp của con người
vào mùa khô hạn.
- Rừng là kho
thực phẩm: Rừng là nơi cung cấp
những loài thực vật và động vật
có thể sử dụng làm nguồn lương
thực và thực phẩm cho người. Theo
số liệu thống kê cho biết có 62 quốc
gia sử dụng 25% lượng prôtein từ các
động vật trong rừng, 19 quốc gia
sử dụng 50% lượng protein, Thái Lan: 51%,
Philippin: 52%, Indonesia: 68%... và đặc biệt các
nước như Ghana, Congo (Zaire) và nhiều nước
ở Tây và Trung Phi sử dụng đến 75% lượng
protein được lấy từ các động
vật rừng.
- Rừng có tác
dụng chống sự bồi lấp : rừng giúp
cho đất chống lại sự xói ṃn,
gián tiếp chống sự bồi lấp ḷng sông,
hồ, các công tŕnh thủy điện và các công
tŕnh thủy lợi.
- Rừng c̣n là
kho thuốc vô giá: rừng có rất nhiều loài
thực vật và động vật có
dược tính được sử dụng làm
thuốc phục vụ sức khỏe của con
người.
Hiện nay, rừng trên toàn
thế giới bị con người tàn phá đă
thu hẹp diện tích với một tốc độ
rất nhanh nhất là các khu rừng nhiệt
đới. Theo các chuyên gia và các nhà bảo
vệ rừng cho biết hằng năm trên
thế giới có khoảng 4,6 triệu ha rừng
nhiệt đới bị phá hủy. V́ các
lợi ích nêu trên và v́ sự tồn tại và
phát triển của xă hội loài người nên
vấn đề đặt ra là mỗi người
trong chúng ta phải có nhiệm vụ bảo
vệ, duy tŕ và phát triển nguồn tài nguyên
nầy.

Rừng phân bố không đồng
đều trên các Châu lục về diện tích
cũng như về thể loại. Tính tổng
thể th́ rừng chiếm 29% diện tích của
các đại lục tương ứng với
3.837 triệu ha gồm 1.280 triệu ha rừng thông
ở vùng ôn đới và hàn đới, 2.557
triệu ha rừng rậm ở vùng nhiệt đới
và xích đạo.
Bảng 1. Diện tích
rừng trên các Châu lục (Deveze, 1973)
Các Châu
lục
|
Diện tích
rừng
(Triệu ha)
|
Tổng diện
tích rừng
(%)
|
Diện tích
rừng của
khu vực(%)
|
B́nh quân
theo đầu
người (ha)
|
Châu Âu (Trừ Liên xô cũ)
Liên xô (cũ)
Bắc Mỹ
Mỹ la-tinh
Châu Phi
Châu Á
Châu Đại dương
|
136
743
656
890
801
525
86
|
3,5
19,4
17,1
23,2
20,9
13,7
2,2
|
28,3
33,9
32,3
44,0
27,0
19,8
10,0
|
0,3
3,8
4,2
5,2
3,9
0,4
6,7
|
Tổng cộng
|
3837
|
100%
|
29,1
(Trung b́nh)
|
1,6
(Trung b́nh)
|
Rừng phản ánh các đai
khí hậu thông qua cấu trúc và thành phần
của nó:
- Ở vùng
cực: do khí hậu quá lạnh nên các cây gổ
lớn không phát triển mà chủ
yếu là rong, nấm, địa y và một
số loài thân thào; chúng phát triển vào 3 tháng mùa
hè tạo nên lớp thảm thực vật
gọi là đài nguyên.
- Ở vùng ôn
đới: do khí hậu ôn ḥa hơn và có 4 mùa rơ
rệt trong năm h́nh thành 3 loại
rừng: rừng cây lá kim, rừng hỗn hợp
và rừng cây lá rộng thay lá theo mùa. Ngoài ra
ở những nơi thuộc vùng ôn đới có
mùa khô kéo dài, lớp thảm thực vật
gồm các loài thân thảo gọi là thảo nguyên.
- Ở vùng
nhiệt đới và cận nhiệt đới:
khí hậu nóng ẩm và lượng mưa
nhiều. Rừng nhiệt đới
rất đa dạng về thành phần loài.
Phần lớn là cây lá rộng và lá thường
xanh quanh năm, tạo nên từ 3 - 5 tầng cây
thân mộc. Loại rừng nầy cho năng
suất gỗ cao nhất.
- Ở vùng khí
hậu khô, nóng như sa mạc và bán sa mạc:
do nhiệt độ cao và khô hạn
nên lớp thảm thực vật thưa thớt,
nghèo nàn bao gồm các loài thân thảo, cây
bụi, cây gổ nhỏ gọi là Savane.
Khi đi từ xích đạo
hướng về cực, thảm thực vật
rừng biến đổi về kích thước
cây, về chủng loại và cấu trúc... là do
có sự khác biệt về khí hậu như
nhiệt độ, ẩm độ và cường
độ chiếu sáng của mặt trời. Ta cũng
thấy sự biến đổi tương
tự như vậy khi đi từ đồng
bằng lên dần trên núi cao.
Bảng 2. Diện tích
và sức sản xuất của các loại
rừng trên thế giới (Deveze, 1973)
Hệ sinh thái rừng trên
thế giới
|
Diện tích(triệu km2)
|
Sức sản xuất
g/m2/năm
|
Rừng rậm nhiệt
đới
Rừng thay lá nhiệt
đới
Rừng cây lá kim ôn
đới
Rừng cây lá rộng ôn
đới
Rừng thông phương
Bắc
Đồng cỏ ôn đới
Savane
Toundra
Sa mạc và bán sa
mạc
Hoang mạc và vùng
cực
|
17,0
7,5
5,0
7,0
12,0
90,0
15,0
8,0
18,0
24,0
|
2.200
1.600
1.300
1.200
800
600
900
140
90
3
|
Theo tài liệu của Maurand th́
trước năm 1945, Việt Nam có 14 triệu ha
rừng chiếm hơn 42% diện tích tự nhiên
của cả nước, năm 1975 diện tích
rừng chỉ c̣n 9,5 triệu ha (chiếm 29%
diện tích tự nhiên), năm 1985 c̣n 7,8
triệu ha (23,6%) đến năm 1989 chỉ c̣n
6, 5 triệu ha (19,7%) (Viện điều tra qui
hoạch rừng Việt Nam, 1989).
Do đất nước ta
trải dài từ bắc xuống nam và điạ
h́nh với nhiều cao độ khác nhau so
với mực nước biển nên rừng phân
bố trên khắp các dạng địa h́nh,
với nét độc đáo của vùng nhiệt
đới và rất đa dạng: có nhiều
rừng xanh quanh năm, rừng già nguyên thủy,
rừng cây lá rộng, rừng cây lá kim, rừng
thứ cấp, truông cây bụi và đặc
biệt là rừng ngập mặn...
Bảng 3. Tài nguyên
rừng ở Việt Nam (Maurand, 1945)
Khu vực
|
Diện tích tự nhiên
( 1.000 ha )
|
Diện tích rừng
( 1.000 ha )
|
Tỉ lệ %
diện tích rừng
|
Bắc bộ
Trungbộ (gồm cả
Lâm đồng và Thuận hải)
Nam bộ
Tính chung cả nước
|
11.570
14.574
6.470
32.804
|
6.955
6.580
817
14.325
|
60,8
44,0
13,0
48,3
|
Rừng Việt Nam có nguồn
tài nguyên sinh vật đa dạng. Có thể nói nước
ta là trung tâm thu nhập các luồng thực
vật và động vật từ phía bắc
xuống, phía tây qua, phía nam lên và từ đây
phân bố đến các nơi khác trong vùng. Đồng
thời, nước ta có độ cao ngang từ
mực nước biển đến trên 3.000 m nên
VN có nhiều loại rừng với nhiều
loại thực vật và động vật quư
hiếm và độc đáo mà các nước ôn
đới khó có thể t́m thấy được:
- Về thực vật, theo
số liệu thống kê gần đây th́ có
khoảng 12.000 loài thực vật, nhưng chỉ
có khoảng 10.500 loài đă được mô
tả (Hộ, 1991- 1993), trong đó có khoảng 10%
là loài đặc hữu; 800 loài rêu; 600 loài
nấm... Khoảng 2.300 loài cây có mạch đă
được dùng làm lương thực,
thực phẩm, làm thức ăn cho gia súc.
Về cây lấy gỗ gồm có 41 loài cho gỗ
quí (nhóm 1), 20 loài cho gỗ bền chắc (nhóm
2), 24 loài cho gỗ đồ mộc và xây
dựng (nhóm 3)..., loại rừng cho gỗ
nầy chiếm khoảng 6 triệu ha. Ngoài ra
rừng VN c̣n có loại rừng tre, trúc chiếm
khoảng 1,5 triệu ha gồm khoảng 25 loài
đă được gây trồng có giá trị
kinh tế cao.
Ngoài những cây làm lương
thực, thực phẩm và những cây lấy
gỗ ra, rừng Việt Nam c̣n có những cây
được sử dụng làm dược
liệu gồm khoảng 1500 loài trong đó có
khoảng 75% là cây hoang dại. Những cây có
chứa hóa chất quư hiếm như cây Tô
hạp (Altingia sp.) có nhựa thơm có ở vùng
núi Tây Bắc và Trung bộ; cây Gió bầu
(Aquilaria agalocha) sinh ra trầm hương, phân
bố từ Nghệ tỉnh đến Thuận
Hải; cây Dầu rái (Dipterocarpus) cho gỗ và cho
dầu nhựa...
- Về động vật cũng
rất đa dạng, ngoài các loài động
vật đặc hữu Việt Nam c̣n có
những loài mang tính chất tổng hợp
của khu hệ động vật miền nam
Trung Hoa, Ấn Độ, Mă Lai, Miến Điện.
Hiện tại đă thống kê được
khoảng 774 loài chim, 273 loài thú, 180 loài ḅ sát, 80
loài lưỡng cư, 475 loài cá nước
ngọt và 1.650 loài cá ở rừng ngập
mặn và cá biển; chúng phân bố trên
những sinh cảnh khác nhau, trong đó có
nhiều loài có giá trị kinh tế cao, có ư nghĩa
khoa học. Nhiều loài quư hiếm có tên trong Sách
đỏ của thế giới.

Khi chưa có sự xuất
hiện của con người, rừng che phủ
hầu hết đất đai của các lục
địa. Trong lịch sử phát triển
của loài người vào thời kỳ đồ
đă cũ, con người sống hoàn toàn
phụ thuộc vào rừng bằng các hoạt
động săn bắt và hái lượm, các
hoạt động nầy không gây thiệt
hại ǵ cho rừng. Đến khi con người
bắt đầu biết chăn nuôi và trồng
trọt th́ con người có những hoạt
động tác hại đến rừng, mặc
dù các tác động nầy có phần nào
hạn chế sự phát triển của rừng
nhưng cũng chưa đáng kể lắm.
Kể từ thế kỹ
thứ 3 trước Công nguyên trở về sau th́
rừng mới thực sự bị con người
tấn công khai phá. Sự tấn công khai phá
rừng được thấy rơ nét nhất
ở châu Âu, khi ấy dân số đông dần,
nông nghiệp càng ngày càng mở rộng đồng
thời nghề luyện kim xuất hiện, con người
đốt rừng để trồng tỉa,
lấy gỗ để làm nhiên liệu, làm nhà,
đẻo gỗ làm thuyền, làm bè... cứ như
thế rừng bị thu hẹp dần. Cùng
với sự phát triển nền công nghiệp, dân
cư càng ngày càng tập trung ở các đô
thị làm cho rừng càng ngày càng bị thu
hẹp hơn.
a. Sự tàn phá rừng
* Ở Châu Âu
Rừng ở Châu Âu bị tàn
phá sớm nhất mà chủ yếu ở Tây Âu.
Sự tàn phá đáng kể xảy ra từ
thời kỳ Trung Cổ (từ thế kỷ
thứ V đến thế kỹ XII) và kéo dài
đến thời kỳ Phục hưng (từ
thế kỷ thứ XV đến thế kỷ
thứ XVIII). Do sự phát triển của các
đô thị, các thành phố lớn, nhà thờ,
công xưởng kỹ nghệ, xưởng đóng
tàu ngày càng nhiều; kỹ nghệ luyện kim và
thủy tinh xuất hiện; nền nông nghiệp
càng phát triển... để cung cấp đủ
nguyên liệu cho nhu cầu phát triển nói trên
phải tiêu thụ rất nhiều gỗ dẫn
đến sự khai phá rừng làm thu hẹp
diện tích rừng một cách đáng kể.
Sau đó vào nửa cuối
thế kỷ thứ 19, giao thông đường
sắt phát triển, công nghiệp hóa học và công
nghiệp giấy ra đời đă gia tăng nhu
cầu sử dụng gỗ. Chỉ riêng về công
nghiệp giấy đă cho thấy vào năm 1850
sản xuất giấy trên toàn thế giới
chỉ có một triệu tấn giấy/năm và
đến năm 1990 đă lên đến 80
triệu tấn/ năm, hiện nay nhu cầu c̣n
cao hơn rất nhiều.
* Ở Trung Cận Đông,
Bắc Phi và Bắc Mỹ
Ở Trung Cận Đông, Bắc
Phi th́ rừng bị tàn phá nặng nề chủ
yếu là do việc chăn nuôi thả dê, cừu
gây nên và cũng do tăng dân số. Chẳng
hạn như ở Syria một nước nhỏ
chỉ có 182.000 km2 có khoảng 2,4 triệu con
cừu và 1,2 triệu con dê; Thổ Nhĩ Kỳ
với diện tích 775.000km2 đă có tới 26
triệu con cừu và 20 triệu con dê. V́ vậy
hiện nay Trung Đông và Bắc Phi là những vùng
cạn kiệt rừng nhiều nhất trên
thế giới.
Ở Bắc Mỹ, nguyên nhân
tàn phá rừng ở Bắc Mỹ là do lợi
nhuận trong việc xuất khẩu gỗ. Trước
đây tài nguyên rừng ở khu vực nầy tưởng
chừng như vô tận, từ thế kỷ 15
đến thế kỷ 18 bắt đầu có
sự khai thác gỗ đưa sang bán cho châu Âu
trong giai đoạn nầy chưa có ảnh hưởng
ǵ lớn; nhưng nhịp độ khai thác tăng
nhanh kể từ nửa sau thế kỷ 19 đă
đưa rừng vào t́nh trạng báo động.
* Sự tàn phá rừng
nhiệt đới
Rừng nhiệt đới trước
đây rất lớn, chiếm tới 16 triệu
km2 (bằng 10 % diện tích quả đất)
đến nay chỉ c̣n 9 triệu km2. Rừng mưa
nhiệt đới có sinh khối rất lớn
500 - 800 tấn khô/ha và rất đa dạng
về thành phần loài; nhiều tài liệu cho
biết 50% số loài động và thực
vật trên trái đất cư trú trong các vùng
của rừng nhiệt đới, b́nh quân
cứ 10 km2 rừng đă có tới 1.500 loài
thực vật có hoa, 125 loài thú, 400 loài chim, 100 loài
ḅ sát, 60 loài ếch nhái, 150 loài bướm,
42.000 loài côn trùng (Liêm, 1990).
Do nhu cầu sử dụng
về nguồn gỗ, nguồn nhiên liệu ngày càng
tăng đó là nguyên nhân của sự khai thác
rừng bừa bải; đồng thời do áp
lực gia tăng dân số ngày càng cao trong các
thập kỷ vừa qua dẫn đến sự
khai phá rừng để lấy đất canh tác,
nơi cư trú và mở rộng sân bay, phát
triển các đô thị, xây dựng các đập
thủy điện... và chưa kể đến
sự tàn phá do chiến tranh và nạn cháy
rừng, đây là những nguyên nhân khiến cho
diện tích rừng càng bị thu hẹp nhanh.
* Sự tàn phá rừng
ở Việt Nam
Năm 1945 diện tích rừng
ở Việt Nam là 14 triệu ha đến
hiện nay chỉ c̣n lại khoảng 6, 5
triệu ha, như vậy trung b́nh mỗi năm
rừng Việt Nam bị thu hẹp từ 160 - 200
ngàn ha. Nguyên nhân dẫn đến sự giảm
sút nghiêm trọng về diện tích là do khai hoang
trong chiến tranh, do tập quán sống du canh
của số dân tộc ở vùng cao, do cháy
rừng, do sự khai phá rừng bừa băi
lấy gỗ lấy đất canh tác...
Nguồn tài nguyên động
vật đa dạng của rừng Việt Nam cũng
bị giảm sút nghiêm trọng là do sự săn
bắt thú bừa băi để lấy da, lông,
thịt, sừng và các sản phẩm khác để
làm thuốc, c̣n do việc buôn lậu thú quư
hiếm ra nước ngoài. Trong 4 thập kỷ
qua theo ước tính sơ bộ đă có 200 loài
chim đă bị tuyệt chủng và 120 loài thú
đă bị diệt vong.
Trong những năm gần
đây, do lợi ích trước mắt của
nguồn lợi thủy hải sản, dẫn
đến sự tàn phá các rừng ngập
mặn để lấy chất đốt và làm
vuông nuôi các loài thủy hải sản có giá
trị kinh tế ; điều nầy xảy ra
nghiêm trọng ở vùng đồng bằng sông
Cửu long, sông Hồng và một số các
tỉnh ven biển và hậu quả của nó là
phá vở sự cân bằng hệ sinh thái
rừng ngập mặn, làm mất đi nơi
sinh sản của một số loài tôm cá nước
ngọt và biển, đồng thời gây nên
hiện tượng xói ṃn bờ biển do sóng và
do gió.
b. Sử dụng, bảo
vệ và phát triển tài nguyên rừng
* Tầm quan trọng
của việc bảo vệ và phát triển tài
nguyên rừng
Sự tàn phá rừng ở các
nơi trên thế giới đă gây hậu
quả nghiêm trọng cho con người. Mặc dù
con người đă nhận thức được
điều nầy, nhưng mỗi quốc gia có
những biện pháp xử lư khác nhau tùy vào
sự ư thức của người dân và tùy vào
khả năng và điều kiện cụ
thể của từng quốc gia, cho nên đến
nay ở một số quốc gia t́nh trạng khai
phá rừng vẫn c̣n xảy ra nghiêm trọng.
Đáng lo ngại nhất
hiện nay là các khu rừng nhiệt đới,
do sự gia tăng dân số, do việc xuất
khẩu gỗ là một nguồn lợi tức
đáng kể cho các quốc gia nằm trong khu
vực nầy, nên nạn khai thác các khu rừng
nhiệt đới diễn ra với tốc độ
đáng lo ngại; chẳng hạn như rừng
Amazone là khu rừng nguyên sinh lớn nhất hành
tinh hiện nay đang bị khai phá nghiêm
trọng. Theo các nhà chuyên môn cho rằng với
tốc độ khai phá hiện nay th́ chỉ
trong ṿng vài mươi năm nữa th́ khu
rừng nầy sẽ bị hủy diệt hoàn toàn
và lúc đó con người sẽ nhận
những hậu quả khó lường xảy ra
do sự biến đổi về khí hậu trên
trái đất.
Những nước ở châu
Âu sớm phá hoại rừng và đă sớm
nhận ra được hậu quả của
nguy cơ mất rừng nên việc bảo vệ
và khôi phục nguồn tài nguyên rừng ở các
nước nầy đă cho nhiều kết
quả đáng khích lệ. Đó là một bài
học rất có giá trị, v́ vậy việc
sử dụng, bảo vệ và phát triển
trồng rừng phải được coi là
một chánh sách lớn của mỗi quốc gia
trên thế giới hiện nay.
* Chiến lược
bảo vệ và phát triển rừng trên thế
giới
Trong t́nh h́nh hiện nay cho
thấy việc bảo vệ tài nguyên rừng và
việc khôi phục nguồn tài nguyên nầy
để đảm bảo cho sự cân bằng
sinh thái đồng thời bảo tồn tính
đa dạng sinh học, ngăn chặn sự
diệt vong của các loài nhất là các loài quư
hiếm là một việc làm hết sức
cấp bách.
Chiến lược khôi
phục và bảo vệ rừng trên thế
giới tập trung vào các vấn đề chính
yếu sau đây:
+ Ngăn chặn càng sớm
càng tốt nạn phá rừng nhất là rừng
nhiệt đới:
Các nước đang phát
triển sử dụng đến 80 % lượng
gỗ củi trên thế giơí. Ở đây b́nh
quân mỗi đầu người dùng 0,2 - 0,3 m3
gỗ/năm để đun nấu, chiếm
gấp 10 lần số lượng gỗ dùng
trong xây dựng, vật dụng trang trí và làm
giấy.
Việc xuất khẩu gỗ
sang các nước phát triển là một nguyên nhân
phá rừng nhất là rừng nhiệt đới.
Nhật là nước hàng đầu trong việc
nhập khẩu gỗ với 15 triệu tấn /
năm, trong năm 1987 Nhật đă nhập 1,825
triệu tấn gổ từ Malaysia, 372 ngàn
tấn từ Indonesia, 300 ngàn tấn từ Philippin
và hàng triệu tấn gỗ xẽ nhập
từ Hoa kỳ, số gỗ nầy dùng vào
kỹ nghệ giấy và dùng vào xây dựng. Đặc
biệt Nhật là nước tiêu thụ đũa
ăn nhiều nhất, năm 1988 Nhật đă tiêu
thụ 2 tỉ đôi đũa Waribashi (loại
đũa làm bằng một loại gỗ
trắng và chỉ dùng 1 lần rồi bỏ),
một nửa số đũa nầy nhập từ
Trung quốc, Indonesia, Triều tiên và Philippin.
Sự bùng nổ kinh tế
ở Nhật là nguyên nhân làm giảm đáng
kể diện tích rừng nhiệt đới; tính
từ 1968 đến 1988 để thỏa măn
về nhu cầu bột giấy cao cấp cho
Nhật mà Thái Lan đă mất đi 100.000 ha
rừng Sú Vẹt, Philippin mất 200.000 ha c̣n
Indonesia mất đến 2 triệu ha. Hiện nay,
sau khi đă khoét rỗng các khu rừng của các
nước nầy, người Nhật đang ḍm
ngó tới New Zealand và thậm chí tới cả
khu rừng già nguyên thủy Amazon (Liêm, 1990).
Hiện nay, trước
những hậu qủa do sự tàn phá rừng
đem lại nhiều nước đă và đang
có những chương tŕnh bảo vệ và
phục hồi nguồn tài nguyên nầy. Các nước
nhiệt đới như Thái Lan đă có sắc
lệnh cấm khai thác gỗ, Việt Nam th́
cấm xuất khẩu gỗ tṛn, gỗ xẻ mà
chỉ xuất khẩu gỗ ở dạng thành
phẩm; song song đó c̣n phát động rộng
răi các chương tŕnh đẩy mạnh
việc trồng rừng và đồng thời t́m
ra các nguồn nhiên liệu khác thay thế dần
gỗ củi.
+ Đẩy mạnh công tác
giáo dục cho mọi người dân về vai tṛ
của rừng cũng như hậu quả
của việc khai thác rừng bừa bải:
Cần giáo dục cho mọi
người hiểu biết vai tṛ của rừng
đối với đời sống của con người,
đánh đổ quan niệm thói quen cho rằng
rừng là của trời cho mà sử dụng
phung phí. Việc đưa nội dung bảo
vệ các nguồn tài nguyên nói chung và nguồn tài
nguyên rừng nói riêng vào chương tŕnh giáo
dục là một điều hết sức
cần thiết. Tuyên truyền giáo dục, hổ
trợ và hướng dẫn, tạo điều
kiện để mọi người nhất là
đồng bào các dân tộc làm quen với
lối sống định canh, định cư.
+ Sử dụng phương
pháp Nông - lâm kết hợp và Lâm - nông kết
hợp:
- Trong phương pháp Nông - lâm
kết hợp th́ sản xuất nông nghiệp là
chủ yếu, việc trồng xen các cây thân
gỗ lâu năm nhằm mục đích pḥng
chống gió bảo, chống xói ṃn, giử
ẩm và giử nước.... tạo điều
kiện làm tăng sản lượng nông
nghiệp.
- Trong phương pháp Lâm - Nông
kết hợp th́ sản xuất cây lâm nghiệp
là chính, việc trồng xen cây nông nghiệp
với cây lâm nghiệp nhằm hạn chế
cỏ dại chống xói ṃn và đồng
thời làm tăng số lượng sản
phẩm nông nghiệp. Ngoài ra người ta c̣n có
thể kết hợp giữa Nông nghiệp, Lâm
nghiệp và chăn nuôi gia súc, thủy sản.
+Xây dựng và bảo
vệ các khu rừng quốc gia:
Từ xa xưa con người
cũng có ư quan tâm đến việc bảo
vệ thiên nhiên đó là các khu rừng cấm
của các vua chúa thời xưa. Quan niệm
về khu bảo vệ thiên nhiên thống nhất
ở điểm là mang lại lợi ích cho dân cư
địa phương, bản xứ về kinh
tế góp phần thúc đẩy sự phát
triển xă hội về vật chất, tinh
thần và đạo đức. Sự xây
dựng và bảo vệ các khu rừng quốc gia
c̣n có ư nghĩa quan trọng khác là bảo
tồn được tính đa dạng sinh
học, bảo tồn nguồn gen quí và bảo
vệ đất chống xói ṃn..
Hiện nay ở nước ta
có 10 vườn quốc gia (khoảng 254.807ha), 52
khu dự trử (khoảng 1.401.658 ha), 18 khu bảo
tồn loài/sinh cảnh, 22 khu bảo vệ
cảnh quan và dự kiến có 16 khu bảo
tồn biển Việt Nam. Các vườn quốc
gia đă và đang được bảo vệ có
hiệu quả như vườn Quốc gia Bav́
(7.337 ha), Ba bể (23.340 ha), Bạch Mă (22.030 ha),
Bến en (16.634 ha), Cúc Phương (22.200 ha), Cát bà
(15.200 ha), Côn đảo (15.043 ha), Nam Cát tiên (37.900
ha), Tam đảo (36.883 ha), Yokdon (58.200 ha) (Bộ
Khoa học- Công nghệ và môi trường, 1998).

II.
TÀI NGUYÊN ĐỘNG VẬT và THỰC VẬT HOANG DĂ
Động vật và thực
vật hoang dă là nguồn tài nguyên có khả năng
tái sinh và có vai tṛ rất quan trọng cho sự
tồn tại và phát triển của nhân
loại:
a. Về kinh tế
Sinh vật hoang dă là nguồn
dự trử có tiềm năng to lớn và có
khả năng đáp ứng những nhu cầu
của con người về lương
thực-thực phẩm và những nguyên vật
liệu khác như da, lông, gia vị, hương
liệu, sáp, dầu ăn, tinh dầu, các hóa
chất, giấy, sợi, cao su, phẩm nhuộm
....
Người ta ước tính
rằng khoảng 90% lượng lương
thực và thực phẩm mà con người
sử dụng đươc tạo ra từ cây
trồng và vật nuôi mà các cây trồng và
vật nuôi nầy đều có nguồn gốc
từ các loài hoang dă và trải qua một quá tŕnh
thuần dưỡng và cải tiến đă h́nh
thành nên. Mặc dù hiện nay nguồn lương
thực và thực phẩm con người sử
dụng từ các cây trồng và vật nuôi, tuy
nhiên cũng có một số nơi trên thế
giới người ta vẫn c̣n sử dụng lượng
thực phẩm phần lớn từ những loài
động vật hoang dă; chẳng hạn như
tại một số vùng ở Ghana, Congo và
nhiều nước ở Tây và Trung Phi có tới
75% prôtein động vật được khai thác
từ động vật hoang dă.
Ngoài việc sử dụng làm
thực phẩm, các động vật hoang dă c̣n
được khai thác những bộ phận khác
của cơ thể như da, lông, sừng...để
làm trang phục, đồ trang trí và nhiều
mục đích khác; các sản phẩm nầy cũng
có một giá trị kinh tế rất lớn.
Ở Canada việc mua bán lông thú đă nuôi
sống khoảng 40.000 người săn bắt;
trong mùa săn 1975 - 1976 họ đă thu được
25 triệu USD lông thú chủ yếu là của
Hải ly, Chuột hương, Linh miêu, Hải
cẩu, Chồn Vison và Cáo; cũng trong thời
gian nầy việc chăn nuôi cũng thu được
17 triệu USD lông thú trong đó có 90% là của
chồn Vison. Trong năm 1975, Hoa kỳ đă chi
tới 1 tỉ USD để nhập các sản
phẩm từ da và lông của các loài động
vật hoang dă.
Mậu dịch quốc tế
về cây và con hoang dă cũng đem lại
một doanh thu lớn, những nước phát
triển chăn nuôi động vật hoang dă như
Nam Phi, Dimbabwe, Namibia hằng năm thu được
lợi nhuận từ 1,3 -2,4 triệu USD; Australia
hằng năm xuất khẩu 1,8 triệu con
Kangaroo thu được 8,5 triệu USD. Mặc dù
tài nguyên về động vật hoang dă đem
lại lợi ích rất lớn cho nền kinh
tế ở từng quốc gia, tuy nhiên nó cũng
là một trong những quan tâm lớn của nhân
loại hiện nay.
b. Về y học
Dù rằng chỉ có một
phần rất nhỏ động vật và
thực vật là đối tượng nghiên
cứu về lợi ích trong y dược, nhưng
ngành y học hiện đại phụ thuộc
rất nhiều vào đó. Một bảng phân tích
cho thấy là khoảng 40% các đơn thuốc
được các bác sĩ cung cấp hằng năm
tại Hoa Kỳ cho thấy có những vị
thuốc đơn lẻ hoặc kết hợp
đều có chứa các chất tự nhiên
được lấy từ thực vật
bậc cao (25%), từ các vi khuẩn và nấm (
13%) hoặc từ các động vật (3%).
Chỉ tính riêng tại Hoa Kỳ, các vị
thuốc được ly trích từ thực
vật bậc cao có giá trị khoảng 3 tỉ
USD hằng năm và con số nầy c̣n tiếp
tục được gia tăng nữa.
Các ứng dụng quan
trọng trong y học hiện nay có thể kể
là:
* Các chất ly trích được
sử dụng trực tiếp để chữa
bệnh như Aspirin được sử dụng
rộng rải trên thế giới được
lấy từ lá của cây Liễu ở vùng
nhiệt đới, Penicillin được
lấy từ loài nấm Penicillium và Streptomycin
được lấy từ loài vi khuẩn Streptococcus....
* Các chất ly trích
được dùng làm vật liệu ban đầu
để tổng hợp nên thuốc như
các hormone Corticosurrenale được lấy
từ vỏ thượng thận của động
vật, các hợp chất Corticoid thông thường
được tổng hợp từ các chất
Sapogenin steroid có nguồn gốc từ thực
vật...
* Các chất ly trích được
dùng làm mô h́nh để tổng hợp nên
thuốc như chất cocain được
lấy từ cây Côca có nguồn gốc ở Nam
Mỹ, dựa theo đó người ta đă
sản xuất thuốc gây mê cục bộ
hiện đại.
Nếu không có những
gốc có hoạt tính tự nhiên trong cơ
thể cuả các sinh vật hoang dă, th́ con người
khó có khả năng phát hiện được
những gốc có hoạt tính đó mà sử
dụng hoặc dựa vào đó làm mô h́nh để
tổng hợp.
Hiện nay, cũng phát
hiện được nhiều loài động
vật hoang dă có khả năng sử dụng chúng
để làm vật thí nghiệm và sản
suất nên những loại vaccin dùng trong việc
pḥng bệnh và cũng ước tính có
khoảng 1400 loài thực vật bậc cao và 10% các
loài sinh vật biển có chứa các chất hóa
học có khả năng chống bệnh ung thư.
c. Về tính đa dạng
di truyền
Việc bảo tồn tính
đa dạng di truyền ở các loài sinh vật
hoang dă là một việc làm cấp thiết trong
giai đoạn hiện nay, v́ chúng là nguồn nguyên
liệu di truyền quư giá dùng để cải
tiến những thứ cây trồng và những ṇi
vật nuôi hiện có nhằm để nâng cao
sản lượng thu hoạch trong sản
xuất nông -lâm -ngư nghiệp.
Nguyên liệu di truyền
nằm trong các loài gây nuôi (bao gồm tất
cả những thứ cây trồng, các ṇi vật
nuôi, các thủy hải sản) đều có quan
hệ mật thiết với nguồn nguyên
liệu di truyền của các loài sinh vật hoang
dă, nguồn nguyên liệu nầy đă đóng
vai tṛ chủ yếu trong việc cải tạo
giống cây trồng và vật nuôi như nâng cao
năng suất, chất lượng dinh dưỡng,
mùi vị, tuổi thọ, sức đề kháng,
sức chịu đựng và khả năng thích
nghi với các điều kiện khí hậu,
đất đai khác nhau.
Nguồn nguyên liệu di
truyền trong các loài hoang dă rất hiếm và
gần như không bao giờ là vĩnh cữu.
Những giống cổ truyền quí thường
chỉ phân bố ở từng điạ phương,
chính những đặc điểm hữu ích
của nó như sản lượng cao hoặc
sức đề kháng dịch bệnh của nó làm
nền tảng tạo nên những giống
mới tiến bộ hơn. Việc thay thế
những giống cổ truyền bằng những
giống mới trong sản suất là một
việc làm cần thiết và tích cực bởi
v́ chúng ta cần nhiều lương thực -
thực phẩm hơn nữa; nhưng điều
đó sẽ trở thành nguy hại nếu như
các giống cổ truyền có liên quan lại không
được bảo vệ v́ những loài
dịch hại có khả năng tiến hoá nên có
khả năng xâm nhiễm trở lại và
chỉ có nguồn các giống cổ truyền
mới có nguồn nguyên liệu di truyền có
khả năng chống lại những loài gây
hại và dịch bệnh. Cho nên việc bảo
vệ tính đa dạng di truyền ở các loài
hoang dă là hết sức cần thiết trong giai
đoạn hiện nay và cho cả tương lai.
d. Về sinh thái
Động vật và thực
vật hoang dă là thành phần chủ yếu
của hệ sinh thái và có vai tṛ rất quan
trọng trong sự điều ḥa các chu tŕnh
vật chất và năng lượng trong hệ
sinh thái của quả đất. Trong hệ sinh
thái, các thực vật hoang dă là nguồn cung
cấp chất dinh dưỡng cho các sinh vật
trên đất liền và đại dương là
mắt xích đầu tiên của chuổi - lưới
thức ăn, cung cấp và duy tŕ sự cân
bằng oxygen và các chất khí khác trong khí
quyển, là màng lọc khói bụi và những
độc chất làm cho không khí trong lành hơn,
điều ḥa khí hậu, dự trử và điều
phối nước ngọt, duy tŕ và gia tăng
độ ph́ nhiêu của đất, tái tạo
nguồn chất dinh dưỡng trong sản
phẩm nông nghiệp, kiểm soát dịch hại
làm ảnh hưởng đến năng suất
vật nuôi và cây trồng, là kho dự trử
nguồn nguyên liệu di truyền khổng lồ
có khả năng đáp ứng khi các điều
kiện môi trường biến động, là
nguồn dự trử năng lượng mặt
trời dưới dạng hóa năng trong lương
thực thực phẩm, trong gổ và năng lượng
trong các nhiên liệu hóa thạch.
Bởi v́ hiện nay chúng ta
biết rất ít về vai tṛ của các sinh
vật hoang dă cũng như mối liên hệ
phức tạp giữa chúng với các thành
phần khác trong hệ sinh thái nên những
việc làm của con người hiện nay
sẽ gây những thiệt hại không lường
hết được trong tương lai.
e. Về giải trí và du
lịch
Cuối cùng, động
vật và thực vật hoang dă c̣n có ư nghiă quan
trọng đối với việc giải trí và
du lịch của con người sau thời gian làm
việc mệt mỏi. Nh́n những chiếc lá vàng
rơi, những con chim bay lượn trên bầu
trời, những con cá heo lướt trên mặt
nước, phảng phất đâu đây hương
thơm của một loài hoa dại... con người
sẽ có được những cảm giác tươi
vui và thích thú, những cảm giác đó không
thể mua được bằng tiền.
Ở một số quốc gia
th́ tài nguyên sinh vật hoang dă đă đem
lại một khoản lợi tức đáng
kể từ du lịch; chẳng hạn như
ở Kenya, du lịch chủ yếu dựa trên các
loài động vật hoang dă là 1 trong 3 nguồn
thu ngoại tệ chính của quốc gia nầy.
Ở một số quốc gia
phát triển, th́ động vật hoang dă
được sử dụng trong săn bắn
thể thao là môn rất được ưa
chuộng và được kiểm soát bởi
luật pháp một cách chặt chẻ như
ở Canada chỉ có 11% dân số mới có
giấy phép đi săn và 13% có giấy phép
đi câu; c̣n ở Thụy Điển con số
nầy là 12% và 18%. Tuy nhiên cũng có một
số đông người họ chỉ thích
ngắm các sinh vật hoang dă mà thôi, theo thống
kê th́ ở Hoa Kỳ có 7 triệu người
chuyên quan sát chim, 4,5 triệu người chuyên
chụp ảnh các động vật hoang dă và 27
triệu người thích ngắm cảnh vật
hoang dă của tự nhiên (Miller, 1988).
Cũng như cây trồng và
vật nuôi, nhiều loài động vật và
thực vật hoang dại đă bị biến
mất trên trái đất và khoảng 25.000 loài
động vật có xương sống đang
bị đe doạ diệt vong, các con số
nầy chưa tính đến sự mất đi
không thể tránh khỏi của những loài
động vật nhỏ nhất là các động
vật không xương sống như nhuyễn
thể, côn trùng, san hô....Nếu chỉ tính riêng
các loài hữu nhủ và chim, theo E.O.Wilson và Norman
Meyers th́ tỉ lệ tuyệt chủng của hai
nhóm nầy tăng gấp 1.000 lần kể
từ 8.000 năm trước Công nguyên cho đến
năm 1975 ( Miller, 1988).
E. O. Wilson cùng với các nhà
sinh vật học và các nhà bảo vệ môi trường
c̣n cho biết rằng nếu tính chung cho các loài
bị biến mất trong năm 1975 là 100 loài(tỉ
lệ 1loài/3 ngày); năm 1985 là 1.000 loài ( tỉ
lệ 3 loài/1 ngày), các ông c̣n cảnh báo rằng
nếu như sự tàn phá rừng với tốc
độ như hiện nay nhất là các khu
rừng nhiệt đới, sự phá hủy các
vùng đất ngập nước và các rạng
san hô vẫn c̣n tiếp tục th́ có thể có
từ 500.000 loài đến 1 triệu loài sẽ
bị tiêu diệt từ 1975 đến năm
2000, theo sự ước tính nầy th́ trung b́nh
cứ 30 phút trôi qua th́ có 1 loài vắng bóng vĩnh
viễn trên trái đất. Nếu giả
thuyết nầy là sự thật th́ đó là
một tổn thất rất lớn cho nhân
loại (Miller, 1988).
Khi phân tích nguyên nhân đe
dọa sự tuyệt chủng của các loài
hoang dă các nhà sinh vật học và các nhà bảo
vệ môi trường đều thống
nhất do những nguyên nhân chính sau đây:
· Hoạt động
của con người làm thay đổi nơi cư
trú của các loài hoang dă: con người
luôn luôn làm thay đổi nơi cư trú của
các loài hoang dă bằng các hoạt động như
việc xây dựng các thành phố, mở
rộng đường xá, xây dựng sân bay,
bến cảng, xây dựng các đập nước
và các hồ chứa nước, khai phá rừng,
việc mở rộng các nông trại, khai thác các
khu du lịch, thể thao.... Nơi cư trú bị
phá vở làm ảnh hưởng trực tiếp
đến sự sinh trưởng, sinh sản, di cư
và các hoạt động sống của các sinh
vật hoang dă. Chẳng hạn như sự xây
dựng các đập nước để
phục vụ cho các môn thể thao như đua
thuyền, trượt ván... đă làm ngăn
trở sự di cư sinh sản của cá Hồi
trên các sông ng̣i ở Columbia giảm đáng
kể, trước đây hàng năm thu hoạch
được khoảng từ 10 - 15 triệu con mà
ngày nay chỉ thu hoạch được
khoảng 2,5 triệu con (Chiras, 1991).
· Hoạt động
săn bắt thương mại, săn bắt làm
thực phẩm và săn bắt thể thao: các
hoạt động nầy cũng là nguyên nhân
dẩn đến nguy cơ tuyệt chủng
của các loài hoang dă. Săn bắt cá Voi là
một thí dụ điển h́nh đă đe
dọa sự tồn tại của loài nầy:
hoang dă. Săn bắt cá Voi là
một thí dụ điển h́nh đă đe
dọa sự tồn tại của loài nầy:
Bảng 4. Số lượng
cá Voi trước và sau 1 thời gian săn
bắt (Miller, 1988)
Loại cá Voi
|
Số lượng trước
khi săn bắt
|
Số lượng c̣n
lại hiện nay
|
Blue
Bowhead
Fin
Gray
Humpback
Minke
Right
Sei ( Includes
Bryde’s)
Sperm
|
166.000
54.680
450.000
15.000 - 20.000
119.000
250.000
50.000
108.000
1.377.000
|
7.500 - 15.000
3.600 - 4.100
105.000 - 122.000
13.450 - 19.200
8.900 - 10.500
130.000 - 150.000
3.000
36.800 - 54.700
982.300
|
Ở Châu Phi và đặc
biệt là ở Kenya, săn voi để lấy
ngà đă gây nên sự sút giảm đáng kể
số lượng voi hoang dă, vào thời điểm
1973 có khoảng 130.000 con voi trong các khu rừng th́
hiện nay chỉ c̣n lại khoảng 20.000 con
(Chiras, 1991). Ở Ấn Độ vào đầu
thế kỷ 20, trong các khu rừng có khoảng
40.000 con hổ nhưng đến hiện nay (1999)
chỉ c̣n khoảng 2.000 con.
Săn bắt thể thao cũng
là nguyên nhân dẩn đến nguy cơ tuyệt
chủng của càc loài hoang dă nếu như không
được kiểm soát một cách chặt
chẻ. V́ vậy ở một số quốc gia
như Canada, Thụy điển, Hoa kỳ... đều
có những điều luật qui định cho săn
bắn thể thao và chỉ có những người
có giấy phép mới được tham gia vào
hoạt động nầy và đồng thời
hàng năm cũng bổ sung thêm vào những loài
đă bị săn bắt.
· Sự du
nhập các loài ngoại lai: Sự du nhập các
loài mới vào là một bài học đối
với một số quốc gia, các
loài mới du nhập vào có ảnh hưởng tiêu
cực đối với các loài bản địa
như sự cạnh tranh về thức ăn,
chất dinh dưỡng, nơi cư trú, nơi
sinh sản, truyền nhiểm bệnh tật, kư
sinh...có thể làm cho một số loài bản
địa đứng trước nguy cơ
bị tiêu diệt. Thí dụ như cá Anh vũ và
cá Giếc nhập nội vào Hoa kỳ đă
đe dọa nhiều loài cá ở đây; thỏ
nhập nội vào Châu Uïc sinh sản và phát
triển rất nhanh dă tàn phá mùa màng gây
thiệt hại nghiêm trọng.
· Kiểm soát
dịch bệnh và thiên địch: Trong quá tŕnh
canh tác nông nghiệp con người
thường sử dụng các loại thuốc sát
trùng để diệt trừ các loài gây hại;
trước mắt là con người có khả năng
bảo vệ được mùa màng của
họ, nhưng việc sử dụng thuốc sát
trùng c̣n có tác động trực tiếp đến
các loài hoang dă dẫn tới nguy cơ tuyệt
chủng của chúng. Sự sử dụng
thuốc sát trùng trong những ruộng lúa đă
tiêu diệt hầu như hoàn toàn các loài động
vật hoang dă thủy sinh và c̣n ảnh hưởng
gián tiếp đến những loài khác. Ở Hoa
kỳ việc sử dụng DDT và nhiều
loại thuốc sát trùng khác trong thập niên 1960
đă gây tổn thất rất lớn cho các loài
hoang dă, những com chim Ưng và chim Bồ nông càng
ngày càng giảm số lượng và gầy
yếu hơn ; khi phân tích hàm lượng DDT trong
lớp mở của chúng th́ thấy hàm lượng
DDT tích tụ rất cao và cả trong trứng
của chúng có thể tới 1.400ppm (Chiras, 1991).
· Hoạt động
sưu tập, huấn luyện xiếc và xây
dựng các thảo cầm viên cũng góp phần
làm giảm số lượng các loài hoang dă
nhất là đối với những loài
hiếm. Hằng triệu loài thực vật và
động vật hoang dă được thu gom vào
trong các Thảo cầm viên, các sưu tập cá
nhân, các cửa hiệu buôn bán các sản
phẩm từ động vật hoang dă, sử
dụng động vật hoang dă trong các đoàn
xiếc và các trung tâm nghiên cứu...Năm 1988,
Hoa kỳ đă nhập hơn 125 triệu con cá,
1,2 triệu con ḅ sát và 1,5 triệu tấm da
của ḅ sát; mỗi năm hằng triệu con
chim vùng nhiệt đới được
xuất sang Hoa kỳ, Canada và Anh quốc.
· Ô nhiễm và
sự phá hủy các khu vực sinh trưởng là
hai mối đe dọa nghiêm trọng
nhất hiện nay. Sự ô nhiễm nặng
nề nhất là ô nhiễm ở vùng cửa sông
và vùng ven bờ biển do các chất thải
của các khu công nghiệp, dư lượng
của phân bón và thuốc sát trùng, các tai nạn
đấm tàu dầu... đă tiêu diệt
nhiều loài động vật thủy sinh cùng
với sự tích tụ những độc
chất theo chuổi thức ăn, đều là
những mối đe dọa cho các loài hoang dă. Bên
cạnh đó sự phá hủy các khu vực sinh
trưởng làm thay đổi các điều
kiện vật lư và hóa học ảnh hưởng
đến sự sinh sản và phát triển
của các loài, sự xây dựng các đập nước
ngăn cản sự di cư của các loài
thủy sinh nhất là sự di cư vào mùa sinh
sản..

Hiện nay trên thế giới
có rất nhiều loài động vật và
thực vật hoang dă đang đứng trước
nguy cơ tuyệt chủng. Trước t́nh h́nh
nầy nhiều tổ chức quốc tế
được thành lập nhằm mục đích
t́m những biện pháp thích hợp để
bảo vệ những loài hoang dă trên toàn thế
giới: Tổ chức quốc tế bảo
vệ thiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên (International
Union for the Conversation of Nature and Natural Resources = IUCN
), Hiệp hội quốc tế bảo vệ
chim (International Council for Bird Preservation= ICBP ) và Qũy
bảo vệ sinh vật hoang dă thế giới
(Word Wildlife Fund= WWF) đă thống nhất quan
điểm về nhửng mối đe dọa và
nguy cơ tuyệt chủng của các loài hoang dă
hiện nay và đưa ra những biện pháp
bảo vệ những loài nầy. IUCN đă thu
thập được một danh sách các loài
hoang dă trên thế giới cần được
bảo vệ và phổ biến rộng răi
gọi là Sách Đỏ (The Red Data Book).
Ban đầu những hội
nghị về bảo vệ sinh vật hoang dă
chỉ có sự tham gia của một số ít
quốc gia và càng về sau càng có nhiều
quốc gia tham gia hơn. Một trong những
hiệp định đă được kư
kết vào năm 1975 là hiệp định về
mậu dịch quốc tế các loài sinh
vật có nguy cơ bị tiêu diệt (Convention on
International Trade in Endangered Species = CITES) dưới
sự bảo trợ của Chương tŕnh
nghị sự của Liên Hiệp Quốc về môi
trường (United Nation Environmental Programme = UNEP),
hiệp định nầy được các
hội đoàn săn bắn và khai thác của 93
quốc gia trên thế giới kư kết và
đưa ra danh sách gồm 700 loài đang bị
đe dọa và có nguy cơ tuyệt chủng.
Những qui định ràng
buộc trong các hiệp định đă
được kư kết đă làm giảm đi
sự buôn bán trái luật pháp đối với
các loài hoang dă cần được bảo
vệ. Một số quốc gia như Hoa kỳ,
Canada và Liên xô tuân thủ và thực hiện nghiêm
túc các hiệp định và đă thành công trong
việc bảo vệ được một
số loài thoát khỏi nguy cơ tuyệt
chủng. Tuy nhiên cũng có một vài quốc gia
chưa thực sự quan tâm về việc
bảo vệ những loài sinh vật hoang dă nên
thường xảy ra những hoạt động
vi phạm các điều khoản đă được
kư kết trong hiệp định, điều này
làm cho việc bảo vệ các loài hoang dă không
mang lại kết qủa mong muốn.
Hơn nữa h́nh phạt
về việc mua bán sinh vật hoang dă c̣n nhẹ
đối với người phạm tội
dẫn tới tệ nạn buôn lậu càng phát
triển hơn v́ lợi nhuận cao của nó,
chẳng hạn như năm 1979 tại Hồng Kông
người ta đă bắt giử một người
Ethiopie buôn lậu 319 bộ da của một loài Báo
đốm Châu Phi có trị giá 160.000 USD nhưng
chỉ bị phạt có 1.540 USD. Singapore được
coi là trung tâm quốc tế trong việc trung
chuyển những loài hoang dă và các sản
phẩm của nó từ nhiều quốc gia ra các
nước ngoài, hiện tượng nầy cũng
xảy ra ở một số nước không có kư
kết vào các hiệp định(Miller, 1988).
Ở Việt Nam, do nhiều
nguyên nhân như chiến tranh, đốt phá
rừng, khai thác rừng bừa băi, săn bắt
quá mức, môi trường sống bị phá
hủy hoặc thu hẹp, giảm nguồn
thức ăn... nên nguồn tài nguyên sinh vật
giảm sút đáng kể, nhiều loài trở nên
hiếm hoặc có nguy cơ tuyệt chủng. Được
sự hổ trợ và phối hợp của các
chuyên gia từ các tổ chức quốc tế
IUCN, ICBP, WWF và NYZS (Hội Động vật Newyork)
đă tiến hành các công tŕnh nghiên cứu và
dự kiến số lượng các loài sinh
vật được đưa vào sách Đỏ
của Việt Nam gồm: 78 loài thú, 83 loài chim, 54
loài ḅ sát và lưỡng cư, 37 loài cá
biển, 38 loài cá nước ngọt, 45 loài sinh
vật biển, 23 loài động vật không xương
sống nước ngọt, 2 loài động
vật đất, 4 loài côn trùng và 360 loài
thực vật các loại và trong quá tŕnh bảo
vệ đă cứu được 3 loài thú thoát
khỏi nguy cơ tuyệt chủng như loài Hươu
sao (Cervus nippon), Voi (Elephas maximus) và Khỉ vàng
(Macaca mulatta).
Quản lư động vật
hoang dă bao hàm việc bảo vệ sự
thịnh vượng và nơi cư trú của loài
hoang dă, nhưng sự thịnh vượng
của nó không ảnh hưởng đến
sự thịnh vượng của các loài khác.
Tiến tŕnh quản lư
phải được tiến hành theo từng
giai đoạn, mà giai đoạn đầu tiên
của tiến tŕnh là phải xác định là
loài nào, thậm chí là một nhóm cá thể
của loài đó cần phải bảo vệ,
sau đó là việc chọn nơi thích hợp nào
đó để bảo vệ chúng và khi tiến
hành quản lư phải theo đúng kế hoạch
nhằm đạt được mục tiêu mong
muốn. Sự hiểu biết trong kế
hoạch quản lư dựa trên cơ sở
của sự hiểu biết về những đặc
điểm sinh học của loài cần bảo
vệ như thành phần tuổi, tỉ lệ
giới tính, chỉ số sinh sản, chỉ
số tử vong, khả năng tự vệ và
khả năng thích nghi với môi trường, các
nhu cầu về thức ăn, nước, không
gian, nhiệt độ,... và khả năng
biến động của quần thể;
những thông tin nầy có khả năng thu
thập được như phải có theo
dỏi kiểm tra về độ tin cậy
của chúng. Chính những sự đ̣i hỏi
phải thực hiện đúng những điều
kiện của tiến tŕnh nên điều
nầy có thể giải thích được
tại sao nói quản lư động vật hoang dă
vừa là một công việc có tính khoa học và
vừa mang tính nghệ thuật.
a. Quản lư sự thịnh
vượng của các động vật hoang dă
Quản lư sự thịnh vượng
của các loài hoang dă bao gồm về số lượng,
giới tính, tuổi và sự phân bố của
chúng trong khu vực quản lư bằng biện pháp
là kiểm soát chặt chẻ sự săn
bắt và những hoạt động có nguy cơ
làm ô nhiễm và xáo trộn môi trường
sống ảnh hưởng đến sự sinh
trưởng và phát triển của loài được
bảo vệ. Ở một số quốc gia phát
triển như Hoa kỳ, Canada, Thụy điển...
tiến hành quản lư bảo vệ các loài hoang
dă bằng luật pháp và xác định chính xác
thời gian nào trong năm mới cho săn
bắn, qui định cụ thể các phương
tiện săn bắn chẳng hạn như cung tên,
súng ngắn, súng trường; giới hạn khu
vực và thời gian săn bắn; loài nào
được phép săn bắn; giới hạn
số lượng, kích thước, giới tính
của loài nào được cho phép săn;
mỗi người đi săn thể thao
phải có giấy phép.
Các nhà quản lư c̣n phải
có những biện pháp hữu hiệu để
quản lư hoặc loại trừ những loài
động vật hoang dă có hại cho các lĩnh
vực trồng trọt và chăn nuôi, gây nguy
hiểm cho những thợ săn, những người
khai thác lâm sản và những nhóm người khác
có hoạt động gần với khu vực
quản lư bằng nhiều biện pháp khác nhau như
loại trừ chúng bằng cách săn bắn, dùng
bẩy hoặc đánh thuốc độc;
hoặc làm hàng rào bảo vệ để
giới hạn vùng quản lư hoặc chuyển chúng
đến một nơi nào khác để bảo
vệ ( Miller, 1988 )
b. Quản lư nơi cư trú
của các loài hoang dă cần bảo vệ
Các loài động vật
hoang dă có thể phát triển thịnh vượng
được hay không c̣n tùy thuộc vào
những điều kiện sống trong khu
vực bảo vệ như các yếu tố
của khí hậu, nước, những loài
thực vật làm thực phẩm mà chúng ưa
thích và mối quan hệ giữa chúng với các
loài khác trong cộng đồng không để
xảy ra sự xáo trộn môi trường
sống của chúng.
Có hai phương pháp quản
lư nơi cư trú của các loài hoang dă là
quản lư định vị (in Situ)và quản lư
chuyển vị (ex Situ); trong quản lư định
vị có nhiều lợi điểm hơn so
với quản lư chuyển vị v́ không làm thay
đổi các điều kiện sống và
mối quan hệ của chúng với các loài khác
trong cộng đồng.
c. Quản lư các loài di cư
Những loài động
vật di cư, phần lớn là các loài chim nước
như Vịt trời, Ngổng trời, Thiên Nga...
cần phải có một sự quản lư hết
sức đặc biệt đối với
những quốc gia trên đường di cư
của chúng. Chẳng hạn như ở Canada,
hầu hết các loài nầy chỉ sống
tại đây vào mùa hè và chúng thường di cư
đến các quốc gia ở phía nam như Hoa
kỳ và các quốc gia ở Trung Mỹ, trên dường
di cư của chúng lại rơi đúng vào mùa
săn bắn v́ vậy đây là mối đe
dọa đối với những loài di cư.
Năm 1932, một hội
nghị được tổ chức bao gồm các
quốc gia có chung nguồn tài nguyên nầy
nhằm mục đích hạn chế việc săn
bắn và đồng thời qui định
những điều kiện cho các loài di cư
đến trú ngụ. Theo những điều qui
định trong công ước th́ những nhà
đi săn phải có giấy phép gọi là Duck
stamp cho mỗi năm, việc bán các giấy phép
nầy mang lại 300 triệu USD cho mỗi mùa săn,
số tiền thu được nầy dùng vào
việc nghiên cứu về chúng, dùng cho việc
bảo vệ và phát triển nguồn tài nguyên
nầy như: ngoài việc bảo vệ những
đầm lầy hiện có c̣n có thể mở
thêm những đầm, kênh nhân tạo để
tăng thêm nơi ở, nơi sinh sản và nơi
hoạt động của chúng.
Công ước về các loài
di cư đề ra nghĩa vụ cho các nước
tham gia phải bảo vệ các loài di cư
bị đe dọa và khi chúng gặp t́nh
trạng bất lợi. Các hiệp nghị khu
vực và song phương về các loài di cư
cho thấy là các công ước quốc tế
về các loài di cư là biện pháp duy nhất có
hiệu quả để bảo vệ các loài vượt
qua biên giới của nhiều quốc gia.
Hiện nay việc kinh doanh
đánh bắt cá chưa được quản lư
đúng mức để sử dụng lâu dài v́
vậy sự đóng góp cuả nghề cá vào
nguồn thực phẩm và tài chính của các
quốc gia có nguy cơ ngày càng giảm sút.
Việc đánh cá quá mức trong quá khứ và
hiện tại đem lại hậu quả là
sản lượng đánh bắt hằng năm
bị giảm sút từ 15 -20 triệu tấn và
ít nhất có 25 vùng đánh cá quan trọng
của thế giới bị nghèo kiệt đi
một cách nghiêm trọng. Sự việc nầy
xảy ra ở Tây bắc Đại Tây Dương
là một minh họa là sản lượng cá
từ 4,3 triệu tấn ở năm 1970 tụt
xuống c̣n 3,5 triệu tấn ở năm 1976. Không
ai có thể khẳng định rằng liệu các
đàn cá bị kiệt quệ đó có khả năng
được phục hồi lại được
không?, bởi v́ cả cá con cũng bị đánh
bắt để làm bột cá cùng lúc với các
loài thuộc đối tượng đánh
bắt, động thái cuả hệ sinh thái có
thể bị thay đổi và một loài khác có
thể thay thế loài bị kiệt quệ v́ nó
không c̣n đủ sức cạnh tranh, hơn
nữa băi sinh nở và các nơi sinh sống
cuả cá con là những vùng sinh trưởng
chủ yếu bị thoái hóa hoặc bị phá
hủy do sự ô nhiểm và do sự tàn phá
của con người.
a. Quản lư nghề cá nước
ngọt
Mục tiêu của quản lư
cá nước ngọt là thúc đẩy sự
sinh trưởng và phát triển của các loài cá
được khai thác và đồng thời làm
giảm đi hoặc loại bỏ những loài
cá không được ưa chuộng hoặc có
hại, đây là ước vọng của
những người làm nghề khai thác cá thương
mại và của những người ưa thích
môn thể thao câu cá.
Nhiều điều luật
được đặt ra và thay đổi theo
từng quốc gia, nhưng tựu trung đều
bao hàm những luật định như sau: qui
định thời gian kéo dài cuả mùa khai thác
cho từng loài cá, qui định kích thước
cá cho phép đánh bắt, mức độ đánh
bắt, độ lớn cuả mắt lưới
đúng với kích cở cuả cá trưởng
thành để tránh cho cá con không bị thu
hoạch, không sử dụng điện, chất
nổ hoặc hóa chất độc để
đánh bắt cá, bảo vệ nơi sinh
sống và các băi sinh sản, bảo vệ các ao
hồ thoáng mát, có thực vật thủy sinh sinh
sống để cung cấp oxygen nơi đáy sâu,
kiểm soát kư sinh và dịch bệnh, tránh sự
ô nhiểm và tránh mọi hoạt động làm
ngăn trở sự di cư nhất là sự di cư
đến nơi sinh sản ...có khi c̣n cấm
cả việc khai thác tại một vùng nào đó
hoặc một loài cá nào đó khi chúng đứng
trước nguy cơ cạn kiệt.
b. Quản lư nghề đánh
cá biển
Theo lịch sử cuả ngành
khai thác cá biển và kỷ nghệ săn bắn
cá voi đă đạt sự thành công rất
đáng kể th́ đó cũng là tấm thảm
kịch chung cho nhân loại v́ nguồn tài nguyên
nầy đang bị giảm sút nghiêm trọng và
đang đứng trước nguy cơ cạn
kiệt. Việc đánh cá quá mức là mối
đe dọa chính đối với các nguồn tài
nguyên sinh vật biển, nó xảy ra ở
từng điạ phương trên tất cả
các vùng của thế giới nhưng rơ nét
nhất là ở các vùng biển do các nước
phát triển khai thác, được biết có ít
nhất 5 trong 8 vùng như vùng Tây bắc Đại
tây dương, Đông bắc Đại tây dương,
Điạ trung hải, Tây bắc Thái b́nh dương
và Đông bắc Thái b́nh dương đều
bị các nước phát triển khai thác đến
kiệt quệ gồm Pháp, Nhật, Ba lan, Tây ban
nha, Liên xô và Nam phi.
Nếu việc đánh cá quá
mức đă làm kiệt quệ nhiều vùng cá
trên thế giới, nó c̣n dẫn tới vực
thẩm diệt vong cuả những loài khác như
các động vật thân mềm, rùa biển, cá
voi và vô số các động vật có xương
sống và không xương sống khác. Việc
giết chết những loài ngoài đối tượng
săn bắn và đánh bắt là một trong
những vấn đề có tính chất phá
hoại nhất (thế nhưng thường
được bỏ qua) đối với
việc quản lư tài nguyên dưới nước,
người ta ước tính rằng hằng năm
có hàng triệu con chim biển bất ngờ
bị sa vào lưới và chết đuối.
Ngoài ra, các khu vực ven
biển và các vùng cửa sông đặc biệt
là các vùng nước nông và các rừng ngập
mặn là nơi cung cấp thức ăn, nơi
trú ngụ và sinh sản của các động
vật biển và cả động vật nước
ngọt phục vụ cho 2/3 sản lượng
của công nghiệp cá; các băi rong biển là nơi
nuôi sống cá loài cá có giá trị kinh tế, các
băi san hô là nơi sinh trưởng và nơi
lẩn trốn của chúng khi gặp nguy hiểm
hiện nay đều bị phá hủy, đều
đó dẫn tới hậu quả rất nghiêm
trọng đến nguồn lợi thủy
hải sản và làm sụt giảm năng
suất khai thác của nghề cá. Ở Hoa
kỳ, việc phá hủy các vùng ẩm ướt
ven biển đă gây thiệt hại cho ngành đánh
cá biển 86 triệu USD hằng năm; c̣n ở
Srilanka, việc khai thác đá vôi ở các đảo
san hô để lấy vôi đă nghiêm trọng
tới mức là nghề đánh cá điạ phương
không c̣n cách để sinh sống.
Như vậy, đối
với ngành công nghiệp đánh cá biển ngoài
nhưng qui định về vùng đánh bắt,
phương tiện đánh bắt, đối tượng
và kích cở cuả những đối tượng
cho phép đánh bắt...c̣n phải có những
biện pháp ngăn chận và phục hồi các
vùng cửa sông, các vùng ẩm ướt ven
biển và các băi san hô...
|