|
|
Hệ thần kinh và hệ thụ cảm |
|||||||||||||||
|
Gs. Bùi Tấn Anh - Vơ Văn Bé - Phạm Thị Nga |
||||||||||||||||
|
I- HỆ
THẦN KINH
CHƯƠNG
II
HỆ
THẦN KINH VÀ HỆ THỤ CẢM
Tất cả các hoạt động trong cơ
thể sinh vật phần lớn đều
được điều phối bởi các
tế bào đă được chuyên hóa của
hệ thần kinh. Trong
tất cả các sinh vật từ đơn giản
đến phức tạp, hệ thần kinh đều
có bốn chức năng cơ bản:
1. Phát hiện
kích thích
2. Lan truyền
kích kích
3. Tổng
hợp và phân tích các thông tin thu được
4. Đáp ứng
Trong chương này chúng ta sẽ đề
cập đến các chức năng trên trong hệ
thần kinh của người bao gồm năo và các
thụ quan. a.
Tổ chức của tế bào thần kinh Tế
bào thần kinh (neuron) là đơn vị chức năng
của hệ thần kinh.
Chúng được
chuyên hóa cho việc truyền các tín hiệu từ
một phần này đến một phần khác
của cơ thể. Mặc
dù có nhiều loại tế bào thần kinh khác nhau
trong cấu trúc tùy thuộc vào chức năng
của chúng, phần lớn các tế bào thần
kinh đều có một số đặc điểm
chung. Mỗi tế bào
thần kinh đều gồm có ba phần: nhiều
sợi nhánh, một thân tế bào và một sợi
trục. Các sợi
nhánh (dendrite) là phần kéo dài của tế bào
chất, tiếp nhận các kích thích đi vào thân
tế bào.Thân tế bào (cell body) tương đối
lớn, chứa nhân và các bào quan.
Thông tin được tổng hợp trong thân
tế bào sau đó được chuyển đến
sợi trục. Sợi
trục (axon) thường rất dài, dẫn
truyền thông tin đến sợi nhánh của
một tế bào thần kinh kế cận
hoặc đến cơ quan hiệu ứng (cơ
hoặc tuyến). Sợi
trục thường được chia thành hai
loại: một loại là sợi không có myelin,
trụ trục được bao bởi một
chuỗi các tế bào nâng đỡ gọi là
tế bào Schwann. Loại
thứ hai là những sợi có myelin, trụ trục
được bọc bởi hai bao.
Bao Schawnn ở ngoài cùng, chen giữa bao Schawnn và
trụ trục là bao myelin.
Khoảng trống giữa các bao myelin gọi là
eo Ranvier. Sợi
trục có thể phân nhánh tạo thành các tận cùng
synapse (synaptic terminal).
Nơi tiếp hợp giữa một tận cùng
synapse và một tế bào đích được
gọi là synapse.
Có ba loại tế bào thần kinh chính: tế
bào thần kinh cảm giác (sensory neuron)
dẫn truyền các thông tin về môi trường
ngoài và trong từ các thụ quan về trung
ương thần kinh. Phần lớn các tế bào
thần kinh cảm giác đều tiếp hợp
với loại tế bào thần kinh thứ hai là các
tế bào thần kinh trung gian (interneuron), hay c̣n
gọi là tế bào thần kinh liên hợp, nằm
trong trung ương thần kinh. Loại thứ ba là
tế bào thần kinh
vận động (motor neuron) dẫn truyền các
xung thần kinh từ trung ương thần kinh
đến các cơ quan hiệu ứng (H́nh 1).
H́nh 1. Các
dạng tế bào thần kinh
A. Ở động
vật không xương sống
B. Tế bào
thần kinh cảm giác ở
động vật có xương sống
C. Tế bào
thần kinh ở năo
của động vật có xương sống
D. Tế bào
thần kinh vận động của động
vật có xương sống
Tế bào thần kinh đệm (neuroglial)
là những tế bào có quan hệ mật
thiết với
các tế bào thần kinh và được xem là các
tế bào nâng đỡ (supporting cell) có vai tṛ quan
trong trong việc duy tŕ cân bằng nội môi và cung
cấp chất dinh dưỡng cho các tế bào
thần kinh. Chúng
chiếm khoảng một nửa thể tích của mô
thần kinh. Các tế bào thần kinh được tập hợp lại trong dây thần kinh (nerve). Các dây thần kinh là các bó tế bào thần kinh được bao bởi các mô liên kết. Dây thần kinh giống như những con đường trong đó sợi trục và sợi nhánh của nhiều tế bào thần kinh di chuyển khắp cơ thể. Một số dây thần kinh chỉ gồm các tế bào thần kinh cảm giác hoặc vận động, chúng dẫn truyền xung động theo một chiều. Một số khác là dây thần kinh pha gồm cả hai loại tế bào thần kinh cảm giác và vận động. Thân của các tế bào thần kinh thường gộp chung với nhau tạo thành các hạch thần kinh (ganglion). b.
Tiến hóa của hệ thần kinh V́
các nguyên sinh động vật là những động
vật đơn bào sống riêng rẽ hoặc
sống thành tộc đoàn nên chúng chưa có các
tế bào thần kinh. Tuy
nhiên, một số nguyên sinh động vật có các
bào quan chuyên tiếp nhận cảm giác như các
nhỡn điểm (stigmata), các sợi co rút...
và những cơ quan hiệu ứng như chiên
mao, tiêm mao. Các
động vật thuộc ngành xoang tràng (ruột
khoang) như thủy tức và sứa là những
động vật đa bào và ở chúng đă
xuất hiện dạng đơn giản nhất
của hệ thần kinh là lưới thần kinh
(nerve net). Ở
thủy tức mạng lưới này gồm các
tế bào thần kinh nguyên thủy chạy khắp cơ
thể, nối các thụ quan trong các lớp biểu
mô đến các xúc tu ở đáy của các
tế bào cơ-biểu mô (epitheliomuscular cell).
Khi bị kích thích bởi tế bào thần kinh
chúng sẽ co rút làm cho cơ thể và các xúc tu
ngắn lại (H́nh 2A).
Ở sứa có hai loại thụ quan đặc
biệt là nhỡn điểm (ocelli) dùng để
nhận cảm ánh sáng và túi thăng bằng
(statocyst) giúp cho sứa duy tŕ cân bằng của cơ
thể. Giống như
thủy tức, sứa cũng có một lưới
thần kinh (H́nh 2B).
A
B
H́nh
2. Hệ lưới
thần kinh A.
Ở Thủy tức
B. Ở Sứa
Về phương diện tiến hóa, một
hệ thần kinh phức tạp không thể phát
triển ở những động vật đối
xứng phóng xạ v́ không có sự đầu hóa
(cephalization) nghĩa là không có sự tập trung các
cơ quan cảm giác ở đầu.
Những động vật đối xứng
hai bên đă xuất hiện đầu, trên đó có
sự tập trung của các giác quan.
V́ vậy chúng có thể có các cặp tế bào
thần kinh, cơ, giác quan (tai, mắt...) và các vùng
của năo. H́nh
dạng cơ thể cho phép hệ thần kinh phát
triển phức tạp và đáp ứng có hiệu
quả hơn đối với kích thích. Từ
lưới thần kinh đến hệ thần kinh
trung ương bao gồm một loạt các xu hướng
tiến hóa có
thể được tóm tắt như sau: 1.
Sự phát triển của một chuỗi
thần kinh (nerve cord): từ một lưới
tế bào thần kinh phát triển thành một bó
tập trung của các tế bào thần kinh. 2.
Sự chuyên hóa của các chuỗi thần kinh
cho sự dẫn truyền thông tin. 3.
Sự phát triển và gia tăng số lượng
của các tế bào thần kinh trung gian. 4.
Sự tiến hóa của năo, do sự gia tăng
trong việc tập trung các tế bào trung gian cả
chức năng điều phối ở phần
đầu của động vật. 5.
Vị trí của hệ thần kinh được
tập trung càng sâu trong cơ thể th́ càng
được bảo vệ nhiều hơn. 6.
Sự tiến hóa của các con đường
dẫn truyền thần kinh cảm giác, trung gian và
vận động. 7.
Sự tiến hóa của các thụ quan chuyên
biệt.
Ở các động vật không xương
sống, hệ thần kinh tập trung đầu tiên
được t́m thấy ở giun dẹp.
Hai đám tế bào thần kinh ở đầu,
phía dưới mắt, có vai tṛ như là bộ năo
của con vật. Hai
chuỗi thần kinh chạy từ năo dọc theo
chiều dài cơ thể, được nối
bởi các dây thần kinh.
Các dây thần kinh cũng chạy ngang qua hai phía
của cơ thể. Ở
Giun đất một chuỗi thần kinh lan rộng
ra ngoài từ năo. Chúng
chạy dọc theo mặt bụng, bên dưới
ống tiêu hóa. Trong
mỗi đốt cơ thể có một đám
tế bào, dọc theo chiều dài của chuỗi
bụng. Những
đám tế bào này phát sinh các cặp dây thần
kinh bên nối với biểu mô, cơ và những cơ
quan khác trong cơ thể (H́nh 3).
H́nh
3. Tổ chức
thần kinh ở giun đất
Ở Tôm và các động vật chân khớp
khác, hệ thần kinh rất giống giun đất.
Năo là hai đám tế bào thần kinh được
nối với nhau. Từ
năo phát sinh các dây thần kinh về hướng
mắt và râu. Một
chuỗi thần kinh bụng chạy về hướng
sau của cơ thể. Tại
đây, các đám tế bào cũng nằm trong
mỗi đốt cơ thể, có các dây thần
kinh đi đến các phụ bộ, cơ và các cơ
quan khác. Ở
các động vật có xương sống, hệ
thần kinh phức tạp nằm ở sống lưng
của cơ thể, được bảo vệ
trong hộp sọ và cột sống. a.
Xung thần kinh Tín
hiệu được lan truyền dọc theo
chiều dài của một tế bào thần kinh,
từ một sợi nhánh hoặc thân tế bào
đến tận cùng của một sợi trục,
là một tín hiệu điện phụ thuộc vào
ḍng ion di chuyển ngang qua màng tế bào.
Trong phần này, chúng ta sẽ tập trung xem
một xung điện xuất hiện trong tế bào
như thế nào và bằng cách nào ḍng ion đi qua
màng được biến đổi thành một tín
hiệu di chuyển dọc theo tế bào thần kinh. ·
Điện
thế màng (membrane potiential) Khi
một tế bào ở trạng thái nghỉ, chúng
bị phân cực. Có
một sự chênh lệch về điện tích
giữa bên trong và bên ngoài màng tế bào.
Sự chênh lệch này gọi là điện
thế màng (c̣n gọi
là điện thế nghỉ).Trong một tế bào
thần kinh, điện thế nghỉ khoảng -70
mV, nghĩa là tế bào chất có điện tích âm
so với môi trường ngoài tế bào.
Điện tích ở đây được
tạo ra do sự phân bố của các ion
Khi một tế bào thần kinh ở trạng
thái nghỉ, phía ngoài màng tế bào có nhiều
Có hai cơ chế chuyên chở các ion đi ra và
đi vào tế bào. Bơm
H́nh 4. Cơ
sở của điện thế màng
Điện thế động chính là xung thần
kinh. Một sự
gia tăng cường độ trên ngưỡng không
làm thay đổi cường độ hoặc
tốc độ của xung được tạo
ra. Tế bào
thần kinh sẽ đáp ứng tối đa
hoặc không đáp ứng ǵ cả, một kiểu
phản ứng thường được gọi là
đáp ứng tất
cả hoặc không (all or none response).
H́nh 5. Điện thế động 1.
Giai đoạn
nghỉ 2.
Giai đoạn
khử phân cực 3.
Giai đoạn
đảo cực (điện thế động)
4.
Giai đoạn
tái phân cực 5.
Giai đoạn
tăng phân cực
b.
Sự lan truyền xung trên tế bào thần kinh *
Sự lan truyền điện thế động Một
điện thế động chỉ phát sinh do màng
tế bào bị khử phân cực tại điểm
kích thích. Tế bào
thần kinh thường bị kích thích tại
sợi nhánh; để cho điện thế động
trở thành một tín hiệu, nó phải được
lan truyền dọc theo sợi trục.
Điều này xảy ra là nhờ sự khử phân
cực làm phát sinh điện thế động
tại điểm kích thích sẽ làm cho vùng kế
cận của tế bào thần kinh cũng bị
khử phân cực tạo ra một điện
thế động mới tại vùng này và cứ như
thế cho đến tận cùng của sợi
trục (H́nh 6).
H́nh
6. Sự lan
truyền điện thế động
Khi điện thế động lan truyền
dọc theo sợi trục, điều ǵ ngăn
cản ion Na đi vào tế bào ở vùng ngay phía trước
(có thể gây ra sự tái phân cực lan ngược
về hướng thân tế bào)? Cần nhớ
rằng một điện thế động
được theo sau bởi một thời kỳ trơ,
các kênh ion ·
Tốc
độ lan truyền điện thế động
Một
yếu tố có ảnh hưởng đến
tốc độ lan truyền của điện
thế động là đường kính của
sợi trục: đường kính sợi trục càng
lớn, tốc độ lan truyền càng nhanh.
Ngoài ra cũng cần nhớ rằng nhiều
sợi trục trong hệ thần kinh của động
vật có xương sống được bao
bởi lớp vỏ myelin.
Các kênh ion đóng mở chỉ tập trung
tại các eo Ranvier và sự di chuyển của các
ion qua màng sợi trục chỉ xảy ra ở các
eo này, do đó điện thế động
được lan truyền theo kiểu nhảy
từ eo này đến eo kế tiếp, bỏ qua vùng
cách điện của màng giữa các eo.
Cơ chế này gọi là sự lan truyền
nhảy vọt (saltatory conduction) cũng làm tăng
tốc độ lan truyền của điện
thế động. c.
Sự lan truyền xung động qua synapse Các
tế bào thần kinh truyền thông tin trực
tiếp đến các tế bào khác hoặc các cơ
qua synapse. Tế bào
truyền thông tin được gọi là tế bào
trước synapse, tế bào nhận thông tin
được gọi là tế bào sau
synapse. Ở
một loại synapse phổ biến là synapse hóa
học (chemical synapse)
có một khe synapse ( synaptic cleft) phân cách giữa
tế bào trước và sau synapse, v́ vậy một
điện thế động không thể lan
truyền trực tiếp đến màng của
tế bào sau synapse.
Thay vào đó, một loạt các sự kiện
làm biến đổi tín hiệu điện của
điện thế động ở tế bào trước
synapse thành một tín hiệu hóa học có thể
đi qua synapse, sau
đó chúng được biến đổi trở
lại thành tín hiệu điện ở tế bào
sau synapse.
Để hiểu được chức năng
của một synapse
hóa học cần phải khảo sát cấu trúc
của chúng (H́nh 7).
H́nh 7. Synapse
A.
Synapse của một tế bào thần kinh
vận động
B. Các thành
phần của synapse Trong tế bào chất ở đầu tận cùng của sợi trục có một số túi gọi là túi synapse (synaptic vesicle). Mỗi túi có chứa hàng ngàn phân tử của một chất dẫn truyền thần kinh (neurotransmitter). Nhiều loại chất dẫn truyền đă được phát hiện trong hệ thần kinh của động vật (Bảng 1). Hầu hết mỗi loại tế bào thần kinh chỉ tiết ra một loại chất dẫn truyền. Bảng 1. Một số chất dẫn truyền thần kinh quan trọng
Một tế bào thần kinh sẽ phóng thích
chất dẫn truyền vào synapse khi điện
thế động lan truyền đến cuối
sợi trục và làm khử phân cực màng trước
synapse. Sự khử
phân cực này làm cho
Màng sau synapse được chuyên hóa để
nhận các thông tin hóa học.
Ở mặt ngoài của màng có các protein đóng
vai tṛ như các thụ thể chuyên biệt cho các
chất dẫn truyền.
Các thụ thể này có liên hệ chặc
chẽ với các kênh ion chọn lọc kiểm soát
sự di chuyển của các ion qua màng sau synapse.
Khi thụ thể gắn vào chất dẫn
truyền, cổng của các kênh ion mở ra, cho phép
các ion như
Cần lưu ư rằng một chức năng
quan trọng của synapse
là nó chỉ cho phép xung thần kinh lan truyền theo
một chiều. Các
túi synapse chỉ có
ở các đầu tận cùng của sợi
trục và chỉ có màng trước synapse mới có
thể phóng thích chất dẫn truyền thần
kinh. Thụ thể
chỉ được giới hạn ở màng sau
synapse bảo đảm rằng chỉ có màng này
mới có thể nhận tín hiệu hóa học
từ một tế bào thần kinh khác. Giữa
tận cùng của một sợi trục và các cơ
quan hiệu ứng cũng có các khe nằm trong
một cấu trúc đặc biệt gọi là
khớp cơ-thần kinh (neuromuscular junction) hay là
tấm vận động (motor end plate).
Sự lan truyền xung động qua khe này cũng
theo cơ chế dẫn truyền hóa học nêu trên. Trong
phần này chúng ta sẽ thảo luận về các
con đường thần kinh ở động
vật có xương sống, đặc biệt là
ở người. Hệ
thần kinh của người được tổ
chức như sau:
I. Hệ
thần kinh trung ương (TKTU)
A. Năo bộ
B. Tủy
sống
II. Hệ
thần kinh ngoại biên (TKNB)
A. Hệ
thần kinh dinh dưỡng
1. 12 cặp dây
thần kinh sọ năo
2. 31 cặp dây
thần kinh tủy sống
B. Hệ
thần kinh tự động
1. Hệ
giao cảm 2.
Hệ
đối giao cảm
Hệ TKTU bao gồm năo bộ và tủy
sống, là trung tâm điều phối, sắp
xếp tất cả các thông tin đến và đi.
Các dây thần kinh nối liền nảo bộ
và tủy sống đến các phần ngoại biên
của cơ thể tạo thành hệ TKNB. a.
Các con đường thần kinh dinh dưỡng:
cung phản xạ Một
cung phản xạ là một chuỗi thần kinh
đơn giản nối liền một cơ quan
cảm giác với một cơ quan hiệu ứng.
Nó là dạng đơn giản nhất của
sự kiểm soát thần kinh ở động
vật có xương sống.
Các phản xạ do chúng tạo ra để
đáp ứng với các kích thích chuyên biệt thường
nhanh chóng và tự động.
Các cung phản xạ kiểm soát các phản
ứng cần phải xảy ra nhanh chóng như là các
phản ứng khẩn cấp hoặc sự duy tŕ cân
bằng tự động.
Một cung phản xạ bao gồm ít nhất
ba tế bào thần kinh: cảm giác, trung gian và
vận động, nhưng hầu hết các cung
phản xạ đều có nhiều tế bào
thần kinh trung gian. Cần
lưu ư rằng một cung phản xạ bao giờ
cũng có hai mối liên hệ với các con
đường thần kinh khác.
Thứ nhất, nó luôn luôn gởi thông tin
về năo. Thứ
hai, nó được nối với các cung phản
xạ khác giúp cho việc phối hợp các phản
ứng.
Một thí dụ về phản ứng khẩn
cấp quen thuộc là phản xạ rút tay.
Khi tay chúng ta chạm phải một vật nóng,
nó sẽ tự động rút lại.
Trong phản xạ này các tế bào thần kinh
cảm giác chạy từ tay đến tủy
sống, các thân tế bào nằm trong hạch rễ
lưng ngay phía ngoài tủy sống.
Sợi trục đi vào tủy và tiếp
hợp với các tế bào thần kinh trung gian trong
chất xám của tủy.
Các tế bào thần kinh trung gian lại
tiếp hợp với các tế bào thần kinh
vận động. Sợi
trục của các tế bào này ra khỏi tủy
sống và chạy đến cơ.
Trong phản xạ này, một tín hiệu
mạnh từ các tế bào cảm giác thích hợp
sẽ làm hưng phấn các cơ co và ức
chế các tế bào thần kinh vận động
của cơ duỗi (H́nh 8).
H́nh
8. Một cung
phản xạ đơn giản
Từ thí dụ trên, chúng ta có thể khái quát
về các cung phản xạ của hệ thần
kinh dinh dưỡng
như sau: 1.
Mỗi cung phản xạ chỉ có một
tế bào thần kinh cảm giác mang thông tin về
cảm giác từ các thụ quan về tủy
sống. 2.
Thân của tế bào thần kinh cảm giác luôn
luôn nằm phía ngoài tủy sống, trong các hạch
rễ lưng. 4.
Sợi
trục của tế bào thần kinh cảm giác luôn
luôn đi vào tủy sống trong khi sợi trục
của tế bào thần kinh vận động luôn
luôn đi ra khỏi tủy sống. 4.
Chỉ có
một tế bào thần kinh vận động mang
thông tin từ tủy sống đến cơ quan
hiệu ứng. Ở
người có 31 cặp dây thần kinh tủy,
tất cả đều là dây thần kinh pha và
đều phân nhánh liên tiếp sau khi rời
khỏi tủy, phân bố các dây thần kinh nhỏ
nhất đến hầu hết các phần của
cơ thể phía dưới đầu.
Ngược lại, chỉ có 12 cặp dây
thần kinh sọ nối trực tiếp với năo,
một số là dây thần kinh vận động,
một số là dây cảm giác và một số là dây
thần kinh pha. b.
Hệ thần kinh tự động
H́nh
9. Hệ thần kinh
tự động Ngược
với hệ thần kinh dinh dưỡng, các con
đường thần kinh tự động thường
không chịu sự kiểm soát tự ư.
Chúng phân bố đến tim, cơ trơn trong
thành ống tiêu hóa, hệ hô hấp, hệ bài
tiết, hệ sinh dục, các mạch máu và một
số tuyến. Khác
với hệ thần kinh dinh dưỡng chỉ
dẫn truyền thông tin dọc theo một tế bào
thần kinh vận động từ tủy đến
cơ, các con đường của hệ thần
kinh tự động luôn luôn có hai tế bào
thần kinh vận động.
Sợi trục của tế bào thứ nhất
phát xuất từ năo hoặc tủy và chạy
đến các hạch nằm bên ngoài hệ TKTU.
Tại đây, chúng tiếp hợp với
tế bào thứ hai phân bố vào các cơ quan đích.
Hệ thần kinh tự động được
chia thành hai phần khác nhau cả về cấu trúc
và chức năng: hệ giao cảm (sympathetic system) và
hệ đối giao cảm (parasymthetic system) (H́nh 9).
Hầu hết các nội quan đều
được phân bố bởi cả hai sợi
giao cảm và đối giao cảm với chức năng
đối lập nhau. Nếu
hệ giao cảm kích thích một cơ quan th́
hệ đối giao cảm thường ức
chế cơ quan đó và ngược lại
(Bảng 2). Bảng
2. Tác động
của hệ giao cảm và đốiï giao cảm trên
các cơ quan đích a.
Các thụ quan ở da Trong
da của động vật có xương sống có
nhiều loại thụ quan. Các
thụ quan này có liên quan tới ít nhất là 5
loại cảm giác khác nhau: đụng chạm, áp
lực, nóng, lạnh và đau.
Một số thụ quan ở da, đặc
biệt là những thụ quan có liên quan đến
sự đau thường là những nhánh tận cùng
không có myelin của tế bào thần kinh.
Một số khác là các lưới của các
sợi thần kinh chung quanh các chân lông, những
sợi này đặc biệt quan trọng trong
cảm giác đụng chạm, chúng được
kích thích bởi chuyển động của các lông
có ở hầu hết các phần của cơ
thể. Những
thụ quan da khác phức tạp hơn, có các
tận cùng thần kinh được bao quanh bởi
một lớp vỏ của các tế bào mô liên
kết đặc biệt (H́nh 10).
H́nh
10. Các thụ quan
của da
Ở người số lượng của các
loại thụ quan khác nhau rất lớn: thụ quan
đau nhiều
gấp 30 lần thụ quan lạnh, trong khi thụ
quan lạnh lại nhiều gấp 10 lần thụ
quan nóng. Không có
một thụ quan nào được phân bố
khắp cơ thể. Chẳng
hạn thụ quan đụng chạm được
phân bố dày đặc ở môi nhiều hơn
ở lưng trong khi ở đầu ngón tay có
mức phân bố trung b́nh.
Sự khác biệt trong mức độ phân
bố có liên quan chặc chẽ đến các
chức năng của các phần khác nhau trong cơ
thể. b.
Các thụ quan nội quan Khác
với các thụ quan ở da nhận thông tin từ
môi trường ngoài, một số thụ quan khác
phân tán rộng răi trong cơ thể, có vai tṛ chính
trong việc thu thập những dữ kiện về
các trạng thái của cơ thể.
Trong số này, đặc biệt quan trọng là
thụ quan về sức căng ở cơ và gân.
Chúng nhận ra sự biến đổi về
sức căng của cơ, truyền các xung về
hệ TKTU để thông báo vị trí và các cử
động của những phần khác nhau trong cơ
thể. Một
số thụ quan khác được phân bố
rộng răi trong các nội quan.
Chẳng hạn thụ quan trong động
mạch cảnh
nhận cảm về nồng độ CO2 trong máu và
về huyết áp. Chúng
rất quan trọng trong việc điều khiển
tính tự động của nhịp tim.
Chúng ta hiếm khi nhận biết hoạt động
của những thụ quan nội quan một cách có
ư thức; những đáp ứng của chúng thường
được điều khiển bởi hệ
thần kinh tự động.
Tuy nhiên một số thụ quan có thể
tạo ra những cảm giác đói, khát, buồn nôn. Vị
giác và khứu giác là những thụ quan hóa học
có vai tṛ nhận biết các hóa chất đặc
biệt trong môi trường.
Đối với động vật ở cạn,
vị giác là phương tiện để phát
hiện các hóa chất ḥa tan trong dung dịch và
khứu giác dùng để phát hiện các hóa
chất bay hơi. Tuy
nhiên hai cảm giác này thường có quan hệ
mật thiết với nhau. Nhiều
động vật hữu nhũ dùng vị giác và
khứu giác của chúng để t́m cá thể giao
phối, để nhận ra lănh thổ đă
được đánh dấu bằng một số
chất hóa học và để định hướng
trong sự di cư. Ở
người và động vật hữu nhũ,
vị giác và khứu giác có chức năng tương
tự và có quan hệ với nhau.
Trong cả hai trường hợp, một phân
tử của hóa chất phải ḥa tan trong chất
dịch để có thể đi đến tế bào
thụ quan và kích thích sự nhận cảm.
Phân tử này gắn vào protein chuyên biệt
trong màng của tế bào thụ quan làm phát sinh
một điện thế động. a.
Vị giác Các
tế bào tiếp nhận cảm giác về vị
(nếm) là dạng biến đổi của các
tế bào biểu mô, được tổ chức
thành các chồi vị giác (taste buds) phân bố trong
nhiều vùng của lưỡi và miệng (H́nh 11).
Hầu hết các chồi vị giác nằm trên
bề mặt của lưỡi, ở các gai lưỡi.
Mặc dù không thể phân biệt các thụ
quan vị giác từ cấu trúc của chúng nhưng
chúng ta có thể nhận ra 4 vị cơ bản là
ngọt, chua, mặn, đắng. Mỗi
vị được nhận biết bởi một
vùng riêng biệt trên lưỡi.
Những cảm giác cơ bản này gắn
liền với h́nh dạng và điện tích
của các phân tử đặc biệt khi chúng
gắn vào các thụ thể.
Các tế bào thần kinh cảm giác từ các
chồi vị giác dẫn truyền các thông tin
vị giác của các thụ thể khác nhau về năo.
A
B
H́nh 11. Vị
giác
A.
Các vùng nhận cảm vị giác trên lưỡi
B. Cấu trúc
của một chồi vị giác b.
Khứu giác Khứu
giác của thú nhận biết được các hóa
chất bay hơi khi những chất này xông vào mũi.
Các tế bào của thụ quan khứu giác là
những tế bào thần kinh nằm trong phần trên
của xoang mũi dẫn truyền các xung động
dọc theo sợi trục của chúng về hành
khứu giác (olfactory bulb) của năo.
Các đầu tiếp nhận của tế bào
có các tiêm mao phân bố trong một lớp màng
nhầy của xoang mũi (H́nh 12).
Khi các chất có mùi khuếch tán vào vùng
nầy, nó sẽ gắn vào một phân tử
thụ thể trên màng nguyên sinh của các tế bào
có tiêm mao. Sự
gắn này sẽ làm mở kênh
H́nh
12. Các tế bào thụ quan khứu giác của người a.
Cấu trúc mắt người Ở
người trưởng thành cầu mắt
được được bao trong một
lớp mô liên kết cứng nhưng đàn hồi
gọi là củng mạc (sclera). Phần trước
của củng mạc là giác mạc (cornea) trong
suốt và cong nhiều, đóng vai tṛ là thành
phần đầu tiên trong hệ thống tập
trung ánh sáng của mắt. Lớp phía trong củng
mạc là mạch mạc (choroid). Đó là một
lớp mô màu sẩm có nhiều mạch máu chạy
qua. Chúng vừa có vai tṛ cung cấp máu cho phần c̣n
lại của mắt, vừa là một lớp màng
để hấp thu ánh sáng.
Ngay trước vùng tiếp nối giữa
phần chính của củng mạc và giác mạc,
mạch mạc trở nên mỏng hơn và có
nhiều cơ trơn bên trong. Phần này được
gọi là thể mi (ciliary body). Phía trước
thể mi, mạch mạc tách khỏi cầu mắt
và mở rộng vào xoang mắt, h́nh thành mống
mắt (iris). Mống mắt có nhiều sợi cơ
trơn sắp thếp theo h́nh ṿng và h́nh tia. Khi các
sợi cơ ṿng co lại, đồng tử (pupil)
ở trung tâm mống mắt cũng co và ngược
lại. Như vậy, mống mắt có vai tṛ trong
việc điều ḥa lượng ánh sáng đi vào
mắt.
Thủy tinh thể là bộ phận thứ hai
trong hệ thống tập trung ánh sáng. Chúng
được treo ngay phía sau mống mắt bởi
một dây chằng treo (suspensory ligament) gắn
với thể mi. Hoạt động của thủy
tinh thể được kiểm soát bởi sức
căng của một loạt cơ rất nhỏ
gắn tại đây. Thủy tinh thể và dây
chằng treo chia xoang của cầu mắt thành hai
buồng. Buồng trước nằm giữa giác
mạc và thủy tinh thể được lấp
đầy thủy dịch (aqueous humor). Buồng phía
sau thủy tinh thể chứa đầy thủy tinh
dịch (vitreous humor) (H́nh 13).
Vơng mạc (retina) có các tế bào thụ quan, là
một mô liên kết mỏng bao phủ bề
mặt bên trong của mạch mạc. Chúng được
hợp thành bởi nhiều lớp tế bào: các
tế bào thụ cảm, các tế bào thần kinh
cảm giác và thần kinh thị giác. Các tế bào
thụ cảm gồm hai loại h́nh que và h́nh nón. Các
tế bào que (rod cell) có rất nhiều ở
phần ngoại biên của vơng mạc, nhạy
cảm với ánh sáng cho phép ta nh́n trong bóng tối
nhưng không phân biệt được màu sắc.
Các tế bào nón (cone cell) được chuyên hóa
cho sự nhận cảm màu sắc, có nhiều
ở trung tâm của vơng mạc, tại vùng gọi
là hố vơng mạc (fovea).
H́nh
13. Sơ đồ lát cắt ngang mắt người
Trong
vơng mạc, các tế bào nón và que tiếp hợp
với các tế bào thần kinh cảm giác ngắn
(tế bào lưỡng cực). Các tế bào này
lại tiếp hợp với các tế bào ở
hạch lưới mà sợi trục của chúng
được bó chung với nhau thành dây thần
kinh thị giác chạy về trung tâm thị giác
của năo (H́nh 14).
H́nh
14. Tổ chức của vơng mạc b.
Sự nhận cảm ánh sáng và màu sắc Các
tế bào que và nón đều có chứa các sắc
tố. Trong các tế bào que có sắc tố rhodopsin.
Chúng gồm một protein là opsin liên kết với
một nhóm phụ là retinal (dẫn xuất của
vitamin A). Trong tối, khi retinal ở dạng không
hoạt động (dạng cis), kênh
Cơ chế nhận cảm của tế bào nón
phức tạp hơn nhiều. Cảm giác về màu
sắc có được nhờ ba loại tế bào
nón, mỗi loại có một loại protein opsin riêng,
kết hợp với retinal tạo thành sắc
tố gọi chung là photopsin. Ba loại tế bào nón
này là tế bào đỏ, lục và lam (tương
ứng với các màu mà photosin của chúng hấp
thu nhiều nhất). Phổ hấp thu của
những sắc tố này chồng lên nhau và cảm
giác của năo phụ thuộc vào sự kích thích khác
nhau của hai hay nhiều loại tế bào nón. Thí
dụ: khi tế bào đỏ và lục bị kích
thích chúng ta có thể thấy màu vàng hoặc cam tùy
thuộc số lượng tế bào nào bị kích
thích nhiều. Bệnh mù màu có quan hệ đến
sự thiếu hoặc không có một hay nhiều
loại tế bào nón. a.
Cấu trúc của tai người Tai
người được chia làm ba phần: tai ngoài,
tai giữa và tai trong. Tai ngoài gồm có vành tai và
ống tai. Phần cuối ở phía trong của
ống tai là màng nhĩ. Sau màng nhĩ là một
buồng của tai giữa. Không khí trong buồng này
thường có cùng áp suất với khí bên ngoài.
Tai giữa được nối với hầu qua
ống Eustach. Ôúng này thường mở ra khi chúng
ta nuốt làm cho áp suất ở tai giữa bằng
với áp suất của môi trường ngoài.
Có 3 xương là xương đe, xương
búa và xương bàn đạp nằm trong buồng
tai giữa từ màng nhĩ đến màng của
cửa sổ bầu dục. Những xương này
khuếch đại sóng âm nhận được
từ màng nhĩ. Một màng khác là màng của
cửa sổ tṛn nằm ngay phía dưới cửa
sổ bầu dục (H́nh 16). H́nh
16. Tai người Phía
sau cửa sổ bầu dục và cửa sổ tṛn
là tai trong, một mê lộ (labyrinth) phức tạp
của các ống và các buồng chứa đầy
chất dịch có thể thông thương với
nhau. Phần phía trên của tai trong có vai tṛ trong các
cảm giác về thăng bằng. Phần phía dưới
có một ống dài cuộn xoắn gọi là
ốc tai (cochlea), chính là cơ quan thính giác. Bên trong
ốc tai có 3 ống nhỏ: ống tiền đ́nh
đắt đầu từ cửa sổ bầu
dục; ống màng nhĩ bắt đầu từ
cửa sổ tṛn và ống ốc tai nằm giữa
hai ống trên. Cả ba ống đều chứa
đầy chất dịch (H́nh 17).
H́nh
17. Tai trong của thú
Cơ quan nhận cảm của ốc tai
gọi là cơ quan Corti, đi vào trong ống ốc
tai từ màng cơ sở (basilar membrane). Cơ quan
Corti bao gồm một lớp biểu mô, trên đó có
các tế bào thụ quan đặc biệt (trên
đầu của chúng có các bó lông cảm giác). Đầu
của các sợi nhánh của tế bào thần kinh
cảm giác nằm trên bề mặt của các
tế bào lông nầy. Ở phía bên trên của các
tế bào lông là màng nóc (tectorial membrane). Sự rung
động của màng cơ sở làm cho các lông
cảm giác di chuyển lên xuống, chạm vào màng
nóc. Chuyển động này làm mở kênh K+ trong màng
tế bào lông và tạo ra sự khử phân cực
(H́nh 18).
H́nh
18. Lát cắt ngang qua một phần của ốc tai
và cơ quan Corti b.
Cơ chế thu nhận âm thanh Sự
dao động của không khí đi vào ống tai ngoài
làm cho màng nhĩ rung lên. Những dao động này
được lan truyền qua ống tai giữa
đến màng cửa sổ bầu dục nhờ
chuỗi xương tai. Sự sắp xếp của
các xương tai và bề mặt tương đối
nhỏ của màng cửa sổ bầu dục làm tăng
lực dẫn truyền rung động.
Chuyển động của màng cửa sổ
bầu dục dẫn tới chuyển động
của chất dịch trong các ống ốc tai: dao
động từ các xương tai đẩy màng
cửa sổ bầu dục lơm vào, chất dịch
trong ống tiền đ́nh bị nén lại sẽ
dồn xuống ống màng nhĩ làm cho màng cửa
sổ tṛn lồi ra về phía tai giữa. Ngược
lại khi màng cửa sổ bầu dục lồi
về phía tai giữa, chất dịch ở ống màng
nhĩ bị rút trở vế ống tiền đ́nh
và kéo màng tṛn lơm vào phía tai trong. Nhờ cơ
chế trên cả hai màng cửa sổ bầu
dục và cửa sổ tṛn đều rung lên và làm
cho toàn bộ chất dịch trong ống tai rung theo.
Chuyển động của dịch ốc tai có cùng
tần số như sóng âm đi vào tai ngoài. Dao
động của dịch ống tai làm cho màng cơ
sở di chuyển lên xuống, đẩy các bó
tế bào lông chạm vào màng nóc. Khi bị kích thích,
các tế bào lông sẽ hoạt hóa các tế bào
thần kinh cảm giác để truyền xung động
về trung tâm thính giác của năo.
Các dao động có tần số thấp kích
thích các tế bào lông ở gần đỉnh
ốc tai, dao động có tần số cao kích thích
các tế bào lông ở gần đáy ốc tai và các
dao động có tần số trung b́nh kích thích các
tế bào ở vùng giữa ốc tai. Tai người
có thể nhận biết các dao động có
tần số rất rộng, từ 16 đến
20000 hertz ở người trẻ tuổi. Thậm chí
một số trẻ em có thể nghe được
các âm có tần số đến 40.000 hertz. Tuy nhiên
khả năng nghe các tần số âm cao giảm
dần theo tuổi. III. NĂO LÀ TRUNG TÂM ĐIỀU PHỐI Đặc điểm nổi bậc cuat nảo động vật có xương sống là các lớp bên ngoài: Vơ đại năo và tiểu năo Vỏ
năo là phần của năo trước. Ở người
vỏ năo rất phát triển và bao lấy các
phần bên dưới của năo. Vỏ năo có liên
quan tới việc kiểm soát các cử động
và các chức năng thần kinh cấp cao như
học học, trí nhớ, tư duy trừu tượng.
Các vùng chính của vỏ năo và chức năng
của từng vùng được chỉ ra ở h́nh
5.19. Các mệnh lệnh vận động xuất phát
từ vỏ năo thường chạy sang bên đối
diện rồi mới đi xuống, nghĩa là
vỏ năo phía bên phải điều khiển
hoạt động của các cơ
phía bên trái và ngược lại.
Tiểu năo là một phần của năo sau. Chúng
giữ vai tṛ quan trọng trong việc phối
hợp thăng bằng và cử động. Tiểu
năo nhạy cảm rơ nhất với rượu,
ảnh hưởng sớm nhất của nó là đến
sự thăng bằng và đến phối hợp
hoạt động của tay-mắt.
Phía dưới vỏ năo và tiểu năo là thân
năo. Chúng là cấu trúc xuất hiện sớm
nhất trong sự tiến hóa của động
vật có xương sống. Chúng được
hợp thành từ phần c̣n lại của năo trước,
năo trung gian và năo sau. Các vùng chính của thân năo là:
- Đồi thị (thalamus) liên quan đến
việc thu nhận và truyền các thông tin quan hệ
đến các hoạt động vận động
cục bộ giữa vỏ năo và các trung tâm
thấp hơn.
- Vùng dưới đồi (hypothalamus): có liên
quan đến các hoạt động điều ḥa
thể dịch của cơ thể.
- Vùng cầu năo (pond) có các trung tâm thính giác. -
Vùng hành tủy (medulla) có các trung tâm kiểm soát
chức năng của hệ tuần
hoàn và hệ tiêu hóa.
Thân năo nối liền với tủy sống
nằm trong cột sống và có một cấu trúc
đặc biệt khi nh́n qua lát cắt ngang.
Ngoại trừ đầu và một số cấu trúc
ở cổ, phần lớn các lệnh vận động
đi từ TUTK theo tủy sống. Ngoài ra, một
số lớn về thông tin cảm giác, bao gồm
tất cả các cảm giác từ chi và từ
bề mặt của thân sẽ đi vào theo tủy
sống. Mọi hoạt động xảy ra trong
tủy sống đều có thể được
kiểm soát hoặc hổ trợ bởi các trung tâm
cấp cao hơn của năo.
H́nh 19. Các phần chính trong năo người
|
||||||||||||||||