|
Vật t́m được ở nơi
xảy ra tai nạn - Một ư tưởng
được thực hiện - Nữ thần không
đáp lại tiếng gơ cửa - Sai lầm đáng
tiếc - Khi Vuêle ốm - “Tôi là một con
lừa thật sự...”.
“Nếu không có vanađi th́ sẽ không có cái ô
tô của tôi”. Đó là lời của vua ô tô
Henri Forđ (Henri Ford). Năm 1905, ông ta đă có
mặt tại một cuộc đua ô tô lớn.
Giống như tại nhiều cuộc đua tương
tự, ở đây cũng không tránh khỏi tai
nạn. Sau một thời gian, Forđ đă đến
nơi xảy ra tấm thảm kịch và đă
nhặt được ở đấy một
mảnh vỡ của một chi tiết thuộc
chiếc ô tô của Pháp - một trong hai chiếc
ô tô đâm nhau. Đó là một đoạn
của chiếc cần xupap. Dù chỉ là một
chi tiết b́nh thường nhưng v́ đang
bị thu hút vào những vấn đề này nên
Forđ để ư đến kích thước không
lớn của nó và đă quyết định
đưa mẩu kim loại này ra thử
nghiệm. Quả nhiên linh tính không đánh
lừa Forđ: loại thép này tỏ ra rất
cứng và rất bền. Tại pḥng thí
nghiệm tiến hành phân tích hóa học mảnh
vỡ được gửi đến, người
ta đă cho biết là loại thép này chứa vanađi.
Ư đồ sử dụng rộng răi loại thép
như vậy vào việc sản xuất ô tô
đă hoàn toàn chi phối Forđ. Chả phải
nói: nếu thực hiện được ư đồ
này th́ ô tô sẽ trở nên nhẹ hơn; điều
đó cho phép có thể tiết kiệm được
nhiều kim loại, và có thể ô tô có thể
được bán với giá rẻ hơn. Nghĩa
là số người mua sẽ tăng lên rơ
rệt, như vậy, lợi nhuận của Forđ
sẽ tăng lên. Thế là Forđ liền
bắt tay vào việc thực hiện ư đồ
của ḿnh. Ông đă phải vượt qua
biết bao khó khăn trước khi đạt
được mục đích. Mấy năm sau
cuộc đua ô tô mà vô t́nh đă đóng vai tṛ
không kém phần quan trọng trong lịch sử ngành
chế tạo ô tô, bộ thương mại và
công nghiệp Pháp đă tiến hành thử
nghiệm các chi tiết riêng rẽ của
chiếc ô tô Forđ loại mới và thấy rơ
rằng, thép của Mỹ vượt hẳn thép
của Pháp về nhiều chỉ tiêu.
Vậy th́ vanađi - kẻ đă thực hiện
một cuộc cách mạng thực sự trong công
nghiệp ô tô là cái ǵ vậy? Và đây, nhà hóa
học Thụy Điển nổi tiếng là Becxêliut
đă mô tả lịch sử phát hiện ra vanađi
như sau: “Ngày xưa có vị nữ thần
Vanađis xinh đẹp tuyệt vời và
được mọi người yêu mến
sống ở phương Bắc xa xôi. Một hôm,
có một người nào đó đến gơ
cửa nhà nàng. Nữ thần ngồi thoải mái
trên chiếc ghế bành và thoáng nghĩ: “Cứ
để cho người ta gơ cửa lần
nữa”. Nhưng rồi tiếng gơ cửa đă
ngừng hẳn và người kia đă đi
khỏi. Nàng băn khoăn tự hỏi: vị
khách khiêm tốn và rụt rè ấy là ai vậy?
Nữ thần mở cửa sổ và nh́n ra
đường. Một chàng Vuêle nào đó đang
vội vă rời khỏi lâu đài của nàng.
Mấy ngày sau, nàng lại nghe thấy tiếng ai
đó gơ vào cửa nhà nàng, nhưng lần này
tiếng gơ dồn dập kéo dài cho đến khi
nàng đứng dậy và đi ra mở cửa.
Trước mặt nàng là chàng trai khôi ngô
tuấn tú Ninx Xepxtơrôm. Thế rồi liền
ngay sau đó, họ đă yêu nhau và sinh ra một
người con trai, đặt tên là Vanađi.
Đó cũng là tên của thứ kim loại
mới do nhà vật lư kiêm hóa học Thụy
Điển Ninx Xepxtơrôm phát hiện ra vào năm
1830”.
Trong câu chuyện này có một điểm chưa
được chính xác. Người đầu tiên
gơ cửa pḥng nữ thần Vanađis không
phải là nhà hóa học Đức Friđric Vuêle
(Frederich Wohler), mà là nhà hóa học kiêm hóa vật
học người Mêxicô, tên là Anđret Manuen
Đen Riô (Andres Manuel Del Rio). Trước Vuêle khá
lâu, vào năm 1801, khi nghiên cứu quặng ch́ nâu
của Mêxicô, Đen Riô đă phát hiện ra
rằng, trong quặng ấy có một thứ kim
loại mới mà thời bấy giờ chưa ai
biết đến. Các hợp chất của kim
loại này mang những mầu sắc rất khác
nhau, v́ vậy mà nhà bác học này đă gọi
nó là “panchromium”, nghĩa là “phiếm
sắc”, và về sau, ông đă đổi tên nó
thành “erythronium”, có nghĩa là “đỏ”.
Tuy nhiên, Đen Riô đă không thể xác nhận
được sự phát hiện của ḿnh. Hơn
nữa, năm 1802, ông đă đi đến
một kết luận sai lầm rằng, nguyên
tố mới này chính là crom vừa được
phát hiện trước đó không lâu. C̣n Vuêle
cũng nghiên cứu quặng ch́ Mêxicô ấy và
đă gần đi đến thành công, nhưng
khí hiđro florua ... đă cản trở ông.
Giữa lúc đang say mê làm việc th́ nhà bác
học bị ngộ độc do khí này nên đành
phải nằm nghỉ trên giường mất vài
tháng. Sau khi b́nh phục, Vuêle đă không trở
lại ngay với những thí nghiệm về
quặng ch́. Chính điều đó là lư do
khiến Becxêliut trách ông là quá nhút nhát khi gơ
cửa nhà nữ thần Vanađis.
Và khi Vuêle ốm th́ cũng chính là lúc vanađi
ra đời lần thứ hai. Lần này một
học tṛ của Becxêliut là nhà bác học
Thụy Điển Ninx Gabrien Xepxtơrôm (Nils
Gabriel Sefstrom) đă đứng bên nôi của chú
bé mới sinh. Thời bấy giờ, ngành
luyện kim Thụy Điển đă bắt đầu
phát triển. Các nhà máy đă mọc lên khắp
mọi miền trong nước. Và người ta
nhận thấy rằng, sắt thép luyện
từ một số mỏ th́ gịn, trong khi đó,
từ quặng của những mỏ khác th́
lại rất dẻo. Tại sao có những
sự khác biệt như vậy? Xepxtơrôm đă
quyết định t́m lời giải đáp cho
câu hỏi này.
Khi nghiên cứu thành phần hóa học của
một số quặng mà từ đó luyện
được thép có chất lượng cao, sau
nhiều lần thí nghiệm kéo dài, nhà bác
học đă chứng minh được rằng,
các quặng này chứa một nguyên tố
mới, mà đó chính là nguyên tố mà lúc sinh
thời, Đen Riô đă phát hiện ra và lầm
tưởng đó là crom. Theo lời khuyên của
Becxêliut, người ta gọi kim loại mới này
là vanađin và về sau đổi thành vanađi.
Cả Đen Riô và Vuêle đều không được
công nhận là “cha đỡ đầu”
của nguyên tố mới, mặc dầu họ
đă đi đến gần phát minh, chỉ cách
có vài bước. Sau thành công của Xepxtơrôm,
Vuêle đă viết thư cho một người
bạn của ḿnh: “Tôi quả là một con
lừa thực sự, v́ tôi đă bỏ qua nguyên
tố mới trong quặng ch́, và Becxêliut đă nói
đúng khi ông cười, có phần mỉa mai
việc tôi đă gơ cửa nhà nữ thần Vanađis
nhưng không gặp được nàng v́ gơ
khẽ và thiếu kiên nhẫn”.
Bốn mươi năm sau - Cái giá khủng
khiếp - Xa tít tận chân mây - Dầu mỏ
kỳ lạ - Quặng từ sao Kim ư? - Bí
quyết để không mỏi - Pháo chĩa lên không
trung - Tấn công và pḥng thủ - "Các nhà
ngoại giao láu lỉnh".
Trong suốt nhiều năm ṛng, không một ai may
mắn tách được vanađi ở dạng
tinh khiết. Măi đến năm 1869, nhà hóa
học người Anh là Henri Rôxco (Henry Roscoe)
mới điều chế được vanađi
ở dạng kim loại tinh khiết. Tuy vậy, nó
chỉ có thể được coi là tinh
khiết đối với thời bấy giờ
mà thôi, v́ c̣n chứa tới 4% tạp chất. Mà
thực ra ngay cả tạp chất không nhiều
cũng làm cho tính chất của nguyên tố này
thay đổi rất rơ rệt. Vanađi nguyên
chất là một thứ kim loại màu xám
bạc, có độ dẻo cao, nghĩa là có
thể rèn được. Lượng tạp
chất dù rất nhỏ, không đáng kể,
đặc biệt là nitơ, oxi, hiđro, cũng
làm cho kim loại này trở nên cứng và gịn, nên
rất khó gia công.
Một thời gian dài người ta không thể
điều chế được vanađi tinh
khiết do tính hoạt động mạnh khác thường
của nó ở nhiệt độ cao: không
chọn được thứ vật liệu làm
nồi nung mà không bị ḥa tan trong vanađi và không
làm bắn nó khi nấu chảy. Lúc bấy
giờ, các nhà bác học đă đi theo con
đường khác: họ đă hoàn thiện phương
pháp điện phân để tinh luyện vanađi
đến độ tinh khiết 99,99 %. Tất nhiên,
4% và 0,01% là một sự khác biệt rất
lớn.
Suốt hàng chục năm, vanađi không
được sử dụng rộng răi trong công
nghiệp. Chẳng hạn hồi đầu
thế kỷ của chúng ta, mỗi năm trên
thế giới chỉ sản xuất vài tấn
vanađi. Đúng là giá của nó hồi đó
cao quá sức tưởng tượng: mỗi
kilogam giá năm mươi ngàn rúp vàng (giá
trị một rúp vàng thời bấy giờ là
0,774235 gam vàng nguyên chất. Như vậy, giá
một kilogam vanađi lúc bấy giờ là gần
39 kilogam vàng! (N. D.)).
Cũng dễ hiểu là v́ sao vanađi được
sản xuất ít ỏi như vậy, và giá
của nó đắt khủng khiếp đến
thế. Mặc dầu vỏ trái đất
chứa không ít vanađi (nhiều hơn bạc
khoảng một ngàn lần) nhưng cực
kỳ hiếm thấy những điểm tích
tụ của nó trên mặt đất. Chính v́
vậy nên vanađi được xếp vào hàng
các kim loại hiếm. Quặng chứa 1 % vanađi
được coi là cực kỳ giàu; ngay cả
những quặng chỉ chứa 0,1 % nguyên tố
quư và hiếm này cũng được khai thác và
chế biến theo quy mô công nghiệp.
Một trong những mỏ vanađi lớn
nhất thế giới nằm ở vùng núi Pêru,
trên độ cao 4700 mét so với mặt nước
biển. Tại đây, ở những nơi xa tít
tận chân mây, từ nhiều năm nay người
ta đă khai thác khoáng vật patronit giàu vanađi
mà trên trái đất không hề gặp lại
ở một nơi nào khác nữa. Cách đây chưa
lâu lắm ở bờ bắc biển Caxpi, trên bán
đảo Buzatri, đă bắt đầu khai thác
dầu mỏ có hàm lượng vanađi cao theo phương
thức công nghiệp. Nhiệm vụ của các
nhà địa chất là phải hoàn thiện công
nghệ tách nguyên tố quư báu này từ
“quặng” dầu mỏ một cách có hiệu
quả.
Một điều đáng chú ư là trong các thiên
thạch rơi xuống trái đất, hàm lượng
vanađi lớn gấp hai - ba lần so với
trong vỏ trái đất. Trong quang phổ của
mặt trời có thể dễ dàng t́m thấy
những vạch đặc trưng cho các nguyên
tử vanađi; điều đó chứng tỏ
rằng, mặt trời cũng rất giàu nguyên
tố này và c̣n giàu hơn cả hành tinh chúng ta.
Có thể đến một lúc nào đó,
việc đưa các chuyến quặng giàu vanađi,
từ sao Hỏa hoặc sao Kim chẳng hạn,
đến nhà máy luyện kim sẽ được
coi như một công việc vận chuyển b́nh
thường, c̣n bây giờ th́ con người trên
trái đất vẫn phải trông cậy vào
dự trữ của chính ḿnh mà thôi.
Cái khó của việc lấy vanađi ra khỏi
quặng cũng chính là nguyên nhân khiến cho kim
loại này trong một thời gian lâu đến
thế không thể t́m được việc làm
cho ḿnh. Tuy nhiên, sự phát triển như vũ băo
của kỹ thuật đă nhanh chóng mở
rộng cửa để đón vanađi vào
thế giới công nghiệp. Nguyên tố này có
khả năng truyền cho thép những tính
chất rất quư; điều đó đă
quyết định số phận của nó - vanađi
bắt đầu đóng vai tṛ “vitamin” đối
với thép.
Chỉ cần pha thêm một lượng vanađi
rất ít (vài phần trăm), thế là thép
liền có cấu trúc mịn hạt, có đồ
bền cao và độ đàn hồi lớn.
Loại thép như vậy “có tài” chịu đựng
va đập và lực uốn, bền bỉ
chống lại được sự mài ṃn và
chống được sự đứt găy
rất tốt. Mà chính các tính chất này lại
hết sức cần thiết cho các chi tiết ô
tô. Bởi vậy, các cụm máy và các chi
tiết quan trọng của ô tô như động
cơ, ḷ xo xupap, nhíp, trục quay, trục bánh xe,
bánh răng v. v... đều được
chế tạo bằng thép vanađi không mỏi. Cũng
v́ thế mà Henri Forđ đă đánh giá vai tṛ
của vanađi cao như vậy. Và cũng không
phải ngẫu nhiên mà viện sĩ A. E. Ferxman
đă nói về nguyên tố này: “.. huyền
diệu thay những sức mạnh mà nó
truyền cho sắt và thép bằng cách trang bị
cho sắt và thép độ cứng và độ
bền, độ dẻo và độ dai, tính không
bị phá hủy rất cần thiết cho
trục ô tô”.
Trong những năm chiến tranh thế giới
thứ nhất, máy bay do các kỹ sư Pháp
chế tạo đă gây nên được sự
chấn động thật sự. Máy bay này
được trang bị không phải là súng máy
như thường thấy, mà là pháo; những
khẩu pháo này đă gây nên nỗi kinh hoàng cho
các phi công Đức. Nhưng bằng cách nào mà
có thể đặt được pháo lên máy
bay? Sức chở của những “chiếc giá
gỗ” thời bấy giờ rất nhỏ. Th́
ra vanađi đă giúp khẩu pháo “trèo lên” máy
bay. Những khẩu pháo của không quân pháp
được chế tạo bằng thép vanađi.
Với khối lượng không lớn lắm,
chúng có những tính năng tuyệt vời
về độ bền, cho phép dội hỏa
lực kinh người vào máy bay Đức.
Tiếp theo đó, người ta bắt đầu
dùng thép vanađi để sản xuất mũ
cho binh lính. Loại mũ khá nhẹ, làm bằng
thép mỏng nhưng bền này đă che chắc
chắn cho người chủ của nó khỏi
bị đầu đạn và mảnh bắn
vào. Vỏ bọc bằng thép cũng rất
cần thiết để bảo vệ các pháo
thủ khỏi làn đạn súng trường
thiện xạ. Nhằm mục đích này, trong
những năm đó, ở Sêfin (Sheffield, nước
Anh), người ta đă sản xuất loại
thép làm vỏ bọc chứa khá nhiều silic và
niken. Tiếc thay, khi thử nghiệm th́ đầu
đạn đă dễ dàng xuyên thủng
những lớp vỏ bọc làm bằng loại
thép này. Lúc bấy giờ người ta đă
quyết định đem ra thử nghiệm
loại thép chứa 0,2 % vanađi. Thành công đă
vượt qua mọi sự mong đợi: thép
này đă vượt qua được cuộc
sát hạch về độ bền trong 99 đến
100 trường hợp!
Thế là vanađi đă bắt đầu
phục vụ cả việc pḥng thủ nữa
chứ không phải chỉ phục vụ tấn
công mà thôi. Các hăng ở Mỹ, Anh, Pháp đă
sẵn sàng sử dụng thép vanađi vào
những mục đích khác nhau. Thế mà các nhà
luyện kim Đức, vốn luôn luôn được
coi là các chuyên gia cỡ lớn về những
vấn đề này, đă bày tỏ một quan
điểm mà mới nh́n qua th́ qua th́ hoàn toàn
khó hiểu: họ đă tỏ ra rất hoài nghi
đối với vanađi trong vai tṛ nguyên tố
điều chất, và trên thực tế, họ
đă từ chối sử dụng thép vanađi.
Thậm chí, một nhà máy của Đức đă
đưa ra kết luận dứt khoát rằng,
luyện thép vanađi là một việc chẳng
có ư nghĩa ǵ cả. Điều này có vẻ như
là một nghịch lư.
Nhưng ngay sau đó, mọi việc đều
sáng tỏ: v́ người Đức không có
quặng vanađi trong nước nên họ
chẳng thích thú ǵ khi thấy giá vanađi trên
thị trường thế giới tăng lên
cùng với nhu cầu của kim loại này; do
đó, họ cố t́m mọi cách ḱm hăm
việc sử dụng thép vanađi. Cũng chính
họ đă ráo riết t́m kiếm những
nguyên tố có khả năng tác động đến
thép như vanađi, song chẳng bao lâu, họ
đă biết chắc chắn rằng, không có
vanađi th́ không xong. Thế là những mưu mô
của các “nhà ngoại giao” luyện kim ḥng
nói xấu thép vanađi đă thất bại, c̣n
việc sản xuất kim loại này th́ tiếp
tục tăng lên từ năm này sang năm khác.
Ở miền cực Bắc - Cầu vồng
mực - Không tồi hơn Platin - Lợn cảm
thấy hài ḷng - Các nhà sưu tầm dưới
biển - Đồn điền ở đáy
biển - Những việc từ đời
nảo đời nào - Dự đoán tương
lai như thế nào.
Chính vanađi đă giúp thép hoàn thành công vụ
một cách tốt đẹp trong những điều
kiện khắc nghiệt của vùng bắc
cực và vùng Xibia: th́ ra nếu pha thêm vanađi
và nitơ vào thép - dù chỉ vài phần vạn
thôi - sẽ làm tăng rơ rệt tính chịu
lạnh của loại thép dùng để làm các
đường ống dẫn, các loại máy
khoan, tháp khoan. Bất kỳ loại thép nào cũng
không chịu được giá rét ở phương
bắc và đều trở nên gịn như
thủy tinh. C̣n thép vanađi th́ không hề suy
suyển ǵ ngay cả âm 60 độ C.
Ngành hàng không, ngành vận tải đường
sắt, kỹ thuật điện, kỹ
thuật vô tuyến, công nghiệp quốc pḥng
... - thật khó kể cho hết mọi lĩnh
vực công nghiệp hiện đại mà
hiện nay đang sử dụng thép vanađi.
Cả gang cũng được hưởng
thụ công lao của vanađi, gang vanađi
chất lượng cao được dùng để
đúc ṿng găng, đúc khuôn đúc thép
thỏi, trục cán, khuôn dập nguội.
Tuy nhiên, vanađi làm việc không chỉ với tư
cách là một kim loại - vitamin. Các muối
của nguyên tố này - màu xanh, vàng, đỏ,
đen, vàng choé (chúng ta hăy nhớ lại cái tên
“panchromium” - phiếm sắc, mà đen Rio đă
đặt cho kim loại này) đều được
sử dụng rất hiệu quả trong việc
sản xuất các chất màu và các loại
mực đặc biệt, trong công nghiệp
thủy tinh và đồ gốm. Nhân tiện nói
thêm là chính vanađi đă bắt đầu
cuộc đời hoạt động thực
tiễn của ḿnh từ nghề sản xuất
đồ gốm ngay sau khi được Xepxtơrôm
phát hiện ra. Nhờ các hợp chất của
vanađi người ta đă tráng lên các sản
phẩm sứ và sành một lớp men mầu
vàng óng ánh và đă nhuộm cho thủy tinh có
màu xanh lá cây hoặc màu xanh da trời.
Năm 1842, nhà hóa học Nga nổi tiếng N. N.
Zinin đă điều chế được
anilin. Điều đó đă thúc đẩy
mạnh mẽ sự phát triển của ngành
sản xuất thuốc nhuộm. Và ở đây,
vanađi đă có mặt ngay: chỉ cần 1 gam
vanađi oxit hóa trị năm là đủ để
biến 200 kilogam muối anilin không màu thành
một chất nhuộm màu rất mạnh - đó
là anilin đen.
Ngày nay, nếu không có vanađi th́ hóa học cũng
chẳng làm nên công chuyện ǵ: oxit của nó là
một chất xúc tác tuyệt vời trong quá
tŕnh sản xuất axit sunfuric mà người ta
vẫn gọi là “bánh ḿ của hóa học”.
Suốt nhiều năm amian nhuốm platin (tức
là amian có rắc bột platin) đă đóng vai
tṛ này. Nhưng trước tiên, chất xúc tác
này rất đắt, thứ hai là nó không
bền vững lắm: nó thường không
chịu làm việc do bị “ngộ độc”
bởi các tạp chất ở thể khí. Chính
v́ vậy, khi công nghệ sản xuất axit
sunfuric với chất xúc tác là các hợp
chất của vanađi được đề
ra, th́ công nhân các nhà máy sản xuất axit
sunfuric liền từ giă amian nhuốm platin mà
không hề do dự. Những tính chất thần
diệu của vanađi oxit cũng được
sử dụng trong việc chưng cất dầu
mỏ và khi điều chế nhiều hợp
chất hữu cơ phức tạp.
Ngay cả ... lợn cũng quư trọng những
phẩm chất tốt đẹp của vanađi.
Ở Achentina người ta đă thí nghiệm
đưa nguyên tố này vào khẩu phần
thức ăn của lợn. Kết quả ra sao?
Bọn lợn con hay ăn hẳn lên và tăng
trọng rất nhanh.
Các nhà bác học Mỹ ở pḥng thí nghiệm
của bệnh viện Long - Bích đă nghiên
cứu ảnh hưởng của vanađi đối
với sự trưởng thành của chuột.
Những con chuột được thí nghiệm
với chế độ ăn uống hoàn toàn
thiếu hẳn nguyên tố này th́ lớn
chậm bằng một nửa “bạn bè”
của chúng ở nhóm đối chứng
được nuôi bằng thức ăn b́nh thường.
Song chỉ cần cho thêm vào thức ăn của
chúng một lượng nhỏ vanađi th́
chỉ sau vài ngày là tốc độ lớn lên
của chuột được khôi phục đến
mức b́nh thường.
Có lẽ vanađi cũng cần thiết đối
với nhiều mô động vật: nó có
mặt trong trứng gà, thịt gà, sữa ḅ, gan
động vật và ngay cả trong năo người.
Một điều đáng chú ư là một số
thực vật và động vật dưới
biển - các loài hải sâm, hải quỳ,
hải đởm - biết “sưu tầm” vanađi.
Chúng lấy vanađi từ môi trường xung
quanh bằng phương pháp nào đó mà con người
chưa biết. Một số nhà bác học
giả định rằng, ở nhóm sinh vật
này, vanađi cũng đóng vai tṛ như sắt
trong máu của người và của các động
vật bậc cao, tức là giúp máu hấp
thụ oxi, hay nói một cách h́nh ảnh là giúp
chúng thở. Các nhà bác học khác th́ cho
rằng, các “cư dân” dưới đáy
biển cần vanađi không phải để
thở mà là để ăn. Những kết
quả nghiên cứu tiếp tục sẽ cho
biết ai đúng ai sai. C̣n bây giờ th́ đă
xác định được rằng, trong máu
của loài hải sâm có rất nhiều vanađi,
c̣n ở các biến chủng của loài hải
quỳ th́ hàm lượng nguyên tố này trong
máu cao gấp hàng tỉ lần so với hàm lượng
của nó trong nước biển. Quả
thật, chúng đúng là những cái ống gom
góp vanađi. Rơ ràng là các nhà bác học đang
rất quan tâm đến khả năng khai thác
vanađi nhờ sự giúp đỡ của các cư
dân ở chốn “thủy cung”.
Ở Nhật Bản chẳng hạn, các đồn
điền hải quỳ kéo dài hàng trăm
kilomet dọc bờ biển. Hải quỳ rất
“mắn đẻ”: từ một mét vuông đồn
điền mầu xanh da trời này, người
ta lấy được khoảng 150 kilogam động
vật này. Sau khi thu hoạch “mùa màng”, thứ
“quặng” vanađi sống này được
gửi đến các pḥng thí nghiệm chuyên môn
để từ đó tách ra thứ kim loại
mà công nghiệp đang rất cần. Gần
đây, trên báo chí đă có tin nói rằng, các
nhà luyện kim Nhật Bản đă chế
tạo được thứ thép mà trong đó
nguyên tố điều chất là vanađi khai
thác được từ loại hải quỳ.
Trên cạn cũng có những “nhà sưu
tập” vanađi: một trong những “vị”
ấy là loại nấm độc amanita trắng
mà mọi người đều biết khá rơ.
Một số loại nấm mốc cũng không
thờ ơ với vanađi: thiếu vanađi th́
chúng hoàn toàn không phát triển được.
Trong khoa học, những loài thực vật có
khả năng tích lũy một nguyên tố nào
đó trong cơ thể được gọi là
những “máy” tích tụ sinh học
(bioconcentrator). Chúng giúp sức cho các nhà địa
chất rất nhiều, v́ chúng đóng vai tṛ
những vật chỉ thị độc đáo
trong việc t́m kiếm quặng của một
số kim loại quư.
Năm 1971, trên các nhánh núi thuộc dăy Thiên Sơn,
các nhà cổ sinh vật học Xô - viết đă
phát hiện ra dấu vết của một loài
thực vật mà khoa học chưa hề
biết đến tên (người ta gọi nó
là menneria) - đó là một loài tảo đơn
bào, từng sinh sống trên trái đất
chừng ... một tỉ rưỡi năm trước
đây. Đến đây, bạn đọc hoàn
toàn có quyền hỏi: “Vậy th́ loại
tảo mới này có quan hệ ǵ với vanađi?”.
Đúng, có quan hệ trực tiếp đấy:
các nhà bác học cho rằng, lúc sinh thời,
menneria đă đóng vai tṛ quan trọng trong
sự h́nh thành bầu khí quyển của chúng
ta, trong việc tạo nên tụ thể của
các nguyên tố hóa học như vanađi và urani
trong vỏ trái đất.
...Chúng ta vừa nghe kể về quá khứ và
hiện tại của vanađi. Và cái ǵ c̣n đợi
nó ngày mai? Tới đây, số phận của
thứ kim loại tuyệt vời này sẽ ra sao?
V́ không có cái “máy thời gian” như trong
truyện viễn tưởng nên hẳn là không
thể tiên đoán tương lai của vanađi
một cách “chẳng sai chút nào”, nhưng v́
biết được những tính chất quư
báu của nó - độ bền cơ học
đáng kể, sức chống ăn ṃn lớn,
nhiệt độ nóng chảy cao, tỷ trọng
nhỏ hơn của sắt - cho nên rất có lư
để giả định rằng, vanađi
sẽ trở thành một thứ vật liệu
kết cấu tuyệt vời. Song trước
hết, con người phải biết cách “tước
đoạt” vanađi của thiên nhiên với
một khối lượng thật lớn
(lớn hơn nhiều so với bây giờ!), v́
thiên nhiên đang cất giữ nó rất cẩn
thận trong những kho tàng không bao giờ
cạn kiệt của ḿnh.
|
|