|
Vật mà bọn thực dân t́m
thấy - Sắc chỉ của vua Tây Ban Nha -
Lại có ở châu Âu - Những người
họ hàng gần gũi - Đầu tiên ở Nga
- “Thép kim cương” - Tấn công pháo đài
- Sai lầm của bộ trưởng tài chính -
Để làm vật kỷ niệm tốt lành -
Kho tàng trong phế liệu - Người được
trao giải thưởng Đemiđop - Được
một gam.
Trong các thế kỷ XVI và XVII, bọn thực dân
Tây Ban Nha đă trắng trợn cướp bóc
của cải ở các quốc gia cổ của
người Aztec và người Inka. Hàng tấn vàng,
bạc, ngọc bích chất đầy các khoang tàu
thường xuyên chuyên chở từ châu Mỹ
về nước Tây Ban Nha. Có lần, khi đi
dọc sông Platino - del - Pinto (thuộc Columbia),
bọn xâm lược đă nh́n thấy trên
bờ sông có vàng và những hạt kim loại
nặng, trắng như bạc mà chúng chưa
hề biết. V́ rất khó nóng chảy nên kim
loại này chẳng có ích lợi ǵ mà chỉ gây
rắc rối cho việc làm sạch vàng. Người
Tây Ban Nha đă quyết định gọi
thứ kim loại mới này là “platina”, nghĩa
là “bạc xấu” để biểu lộ thái
độ không thiện cảm của họ đối
với nó.
Tuy vậy, vẫn khá nhiều platin được
chở về Tây Ban Nha; ở đó, nó được
bán với giá rẻ hơn nhiều so với
bạc. Chẳng bao lâu, bọn thợ kim hoàn người
Tây Ban Nha đă phát hiện thấy là platin
rất dễ tạo thành hợp kim với vàng, nên
những kẻ bất lương trong bọn
họ đă pha trộn nó vào vàng để làm
đồ trang sức và làm tiền giả. Nhà
vua đă biết đến việc làm giả
mạo của bọn thợ kim hoàn, nhưng
chẳng có cách nào tốt hơn là cứ ra
lệnh bắt đ́nh chỉ việc chuyên
chở thứ kim loại vô tích sự ấy vào
trong nước, đồng thời thủ tiêu
tất cả các nguồn dự trữ của nó
để bọn thợ kim hoàn bịp bợm không
c̣n có thể lừa dối những người
lương thiện nữa.
Các quan chức xưởng đúc tiền của
nhà vua đă thu nhặt toàn bộ số platin (mà
lúc bấy giờ bị mang những cai tên
nhạo báng như “vàng thối”, “vàng đê
tiện” ... ) hiện có ở Tây Ban Nha và ở
các thuộc địa của nước này,
rồi công khai xử “tử h́nh” kim loại này
v́ “bản chất dối trá” của nó.
Tất cả số platin thu nhặt được
đều bị đem đổ xuống
biển, xuống sông, xuống những chỗ nước
sâu. Sau này, “chiến dịch” như vậy c̣n
tái diễn một lần nữa. Giai đoạn
đầu trong tiểu sử của platin đă
kết thúc một cách bị thảm như
vậy.
Giữa thế kỷ XVIII, ở Tây Ban Nha đă
xuất bản bộ sách “Cuộc viễn du Nam
Mỹ” gồm hai tập của nhà hàng hải
kiêm nhà thiên văn và toán học Antonio đe Uloa
(Antonio de Uloa). Từng đến Nam Mỹ trong
một đoàn thám hiểm, nhà bác học này
rất quan tâm đến platin tự sinh nên đă
đưa nó về châu Âu và đă mô tả
tỉ mỉ trong bộ sách của ḿnh. Sau đó,
thứ kim loại bị “ruồng rẫy” này
đă thu hút sự chú ư của nhiều nhà bác
học châu Âu.
Nhà hóa học Thụy Điển Henrich Sefe
(Heinrich Scheffer) đă nghiên cứu platin một
cách kỹ lưỡng. Ông đă chứng minh
rằng, platin không phải là hỗn hợp
của các kim loại đă biết (chẳng
hạn, của vàng và sắt) như một
số nhà bác học đă từng khẳng định,
mà là một nguyên tố hóa học mới.
Việc nghiên cứu platin đă dẫn đến
sự phát hiện một số kim loại đi
kèm theo nó trong thiên nhiên và cũng mang một cái
tên chung của ḍng họ platin: năm 1803 đă
phát hiện rođi và palađi, năm 1804 - osimi
và iriđi; bốn chục năm sau, các nhà hóa
học đă biết đến ruteni - nguyên
tố cuối cùng của nhóm này.
Năm 1819, các nhà địa chất đă t́m
được những mỏ sa khoáng platin ở
Uran gần Ecaterinbua (nay là Xveclôpxcơ). Sự
kiện này đă tạo thuận lợi đáng
kể cho các công việc trong lĩnh vực này. Năm
năm sau, xí nghiệp mỏ platin đầu tiên
ở Nga đă bắt đầu hoạt động
tại đây. Lúc bấy giờ, những người
thợ săn ở vùng này đă dùng platin làm
đạn ghém để săn thú. Việc làm
buồn cười này đă nói lên sự giàu
có của sa khoáng Uran.
Cũng vào khoảng thời gian đó, platin
bắt đầu được dùng để
pha vào thép. Năm 1825, “Tạp chí mỏ” đă
viết: “6 fun thép được nấu chảy
với 8 zolotnik (1 fun bằng 409,5124 gam; 1 zolotnik
bằng 1/96 fun, hoặc bằng 4,266 gam. Như
vậy, tỉ lệ platin trong thép ở đây
là 1,72 hoặc 1,39 %) platin tinh khiết trong một
cái nồi nung bằng đất sét chịu
lửa và phải giữ cho kim loại không
tiếp xúc với không khí. Khối nóng chảy
được rót vào khuôn bằng gang và
được làm nguội bằng nước
lạnh. Nh́n vào mặt găy của thỏi thép
th́ thấy thép có cỡ hạt đồng
nhất và nhỏ mịn đến nỗi không
thể nh́n thấy cấu trúc của hạt
bằng mắt thường. Khi được
mài sắc và được tôi, nó cắt
được thủy tinh y như kim cương,
nó chặt được gang và sắt mà không
bị cùn. Nói chung, thép platin cứng hơn
rất nhiều so với các loại thép đă
biết từ trước tới này và chịu
được va đập rất mạnh mà
không bị gẫy”. V́ có độ cứng cao
khác thường nên thép này được
gọi là “thép kim cương”. Platin nắm
giữ vai tṛ này khá lâu nhưng sau này đă
buộc phải nhường lại vị trí
của ḿnh cho vonfram là thứ kim loại rẻ hơn,
đồng thời lại có khả năng hơn.
Nhà bác học nổi tiếng người Nga,
kỹ sư P. G. Xobolexpki đă viết thêm
một trang quan trọng trong tiểu sử của
platin. Đứng đầu Pḥng thí nghiệm
hợp nhất ở Petecbua thuộc Cục mỏ
và muối, đứng đầu Trường
trung học mỏ và Pḥng điều chế
khoáng liệu trung ương, ông đă cùng
với người cộng sự của ḿnh là
nhà luyện kim V. V. Liubarxki bắt tay vào việc
nghiên cứu platin chưa tinh luyện và đề
xuất công nghệ biến nó thành kim loại
dễ rèn. Điều mắc mớ chủ
yếu là trong số các ḷ từng có lúc bấy
giờ, không một ḷ nào có thể dùng nung nóng
platin đến điểm nóng chảy của nó
(đến 1769 độ C) hoặc dù chỉ
gần đến nhiệt độ này cũng
không được. Đây lại là điều
kiện cần thiết mà nếu không thực
hiện được th́ platin không chịu
chấp nhận h́nh dáng con người mong
muốn. Quả là phải “nát óc” về
vấn đề này.
Nếu không thể chiếm lĩnh pháo đài
bằng một cuộc tập kích th́ đành
phải t́m cách khác. Các nhà nghiên cứu cũng
đă hành động như vậy. Họ nhét
đầy platin xốp (khi xử lư quặng
bằng hóa chất đă thu được
thứ kim loại có nhiều lỗ hổng như
vậy) vào các khuôn bằng sắt được
chế tạo một cách đặc biệt,
rồi ép trên máy ép kiểu vít và nung đến
khi nóng trắng lên, sau đó lại ép với áp
lực lớn. Cuối cùng, kim loại đă
đầu hàng: bỏ qua sự nóng chảy, platin
bọt đă biến thành một sản phẩm
nguyên khối mà không thể phân biệt với
các sản phẩm đúc. Thế là vào năm
1826, lần đầu tiên trong lịnh sử
kỹ thuật, một quy tŕnh công nghệ độc
đáo đă được sáng lập nên và
được ứng dụng trong thực
tiễn mà cho đến nay vẫn c̣n giữ
được giá trị của ḿnh: nó đặt
nền móng cho các phương pháp luyện kim
bột hiện đại.
Công lao của Xobolepxki đă được
bộ trưởng tài chính E. F. Cancrin ghi nhận.
Ông này đă đề nghị hàng năm cấp
thêm cho nhà bác học 2500 rúp “tiền thưởng
để nêu gương” ngoài tiền lương
“chừng nào mà ông c̣n phục vụ”.
Cũng lúc bấy giờ, Xobolepxki được
giao việc đúc tiền bằng platin gồm
các loại 3, 6 và 12 rúp. Chẳng bao lâu xưởng
đúc tiền ở Petecbua đă phát hành
“thả cửa” những đồng tiền như
vậy. Sau một thời gian tương đối
ngắn đă phát hành gần một triệu rưỡi
đồng tiền platin, hết gần 15 tấm
kim loại này. Tuy nhiên, giá platin đă tăng
lên, có thể nói, không phải tăng từng
ngày mà là tăng từng giờ, c̣n chính phủ
th́ hiểu rằng ḿnh đă phạm sai lầm:
tiền platin càng ngày càng đắt, bởi
lẽ, giá thành thực sự của nó vượt
xa giá danh nghĩa nên chẳng bao lâu, chúng không
c̣n lưu hành nữa. Có hai điều đă
thúc đẩy quá tŕnh này. Một là, bộ tài
chính đă đưa ra một biện pháp
nhằm thu hồi platin về ngân khố; hai là,
các tư nhân chỉ muốn mua bán bằng
tiền khác và giữ lại tiền platin làm
“kỷ niệm tốt lành”. Hiện nay,
những đồng tiền như vậy rất
hiếm, chỉ có thể nh́n thấy chúng ở
một vài bộ sưu tập lớn về
tiền cổ.
Việc phát hành tiền platin không ngờ lại
có ích cho khoa học. Pḥng thí nghiệm của xưởng
đúc tiền đă gom góp được khá
nhiều “đuôi quặng” platin - những
thứ phế liệu trong việc sản xuất
tiền. Năm 1841, giáo sư hóa học Carl
Carlovich Claut (Karl Karlovich Klaus) của trường
đại học tổng hợp Kazan đă yêu
cầu xưởng đúc tiền gửi cho ông
vài fun phế liệu này để nghiên cứu.
Yêu cầu này đă được đáp
ứng và nhà hóa học đă bắt tay vào
việc phân tích những vật phế thải
mà tưởng như chẳng ích lợi ǵ.
Thật đáng ngạc nhiên, ông đă t́m
thấy trong đó có 10 % platin và một ít osimi,
iriđi, palađi và rođi.
Những thứ “của thừa” mà trước
đó chưa làm ai bận tâm bỗng chốc
biến thành kho của cải quư báu thật
sự. Claut liền thông báo ngay với sở khai
khoáng về những kết quả đă thu
nhận được. Sau đó ít lâu, ông đă
đến Petecbua và được bá tước
Cancrin đón tiếp. Vốn đă rất chú ư
đến thông báo của nhà hóa học này,
Cancrin đă hỗ trợ ông, giúp ông có thêm
nhiều đuôi quặng platin để tiếp
tục nghiên cứu.
Sự lao động kiên tŕ của Claut đă
đạt kết quả tốt đẹp: ông
đă chứng minh được rằng, ngoài
những nguyên tố khác đă biết, trong
phần thừa của quặng platin c̣n có
một kim loại mới mà ông gọi là ruteni
để tôn vinh nước Nga (tên La tinh của
nước Nga là Ruthenia). V́ có phát minh này, Claut
đă được nhận nguyên cả giải
thưởng Đemiđop do viện hàn lâm khoa
học Nga trao tặng.
Việc khai thác platin ở Uran đă phát triển
rất nhanh. Một điều cho thấy rơ là
ngay từ đầu thế kỷ XX, riêng nước
Nga đă chiếm 95 % tổng sản lượng
platin khai thác được trên thế giới
(Columbia sản xuất 5 % c̣n lại). Về sau,
platin từ Nam Phi và Canađa mới bắt đầu
xuất hiện trên thị trường thế
giới.
Một điều đặc biệt là sản lượng
vàng hàng năm trên thế giới đă vượt
quá một ngàn tấn từ lâu, c̣n sản lượng
platin hiện nay chỉ được tính
bằng vài chục tấn. Chẳng có ǵ đáng
ngạc nhiên cả: câu nói: “được
một gam, phải làm một năm” của
một nhà thơ nào đó hoàn toàn đúng trong
trường hợp của platin. Thật vậy,
để thu được một gam kim loại
này, đôi khi phải chế biến hàng trăm
mét khối quặng, tức là nguyên một toa
tầu hỏa. Sở dĩ như vậy là v́
quặng platin có hàm lượng cực kỳ
nghèo nàn và không có những mỏ platin lớn.
Rất ít khi gặp platin ở dạng tự sinh.
Khối platin tự sinh lớn nhất trong số
các khối đă t́m được không quá 10
kilôgam.
Sự đón tiếp nồng nhiệt - Những
tia lửa tắt trước gió chăng? -
Với tốc độ lớn.- Cái đó đă
có ở Đônbat - Trong một năm khủng
khiếp - Những tấm gương trong suốt
- Món quà của Montezuma - Hăy đo nhiệt độ.
Kim loại này bắt đầu t́m được
công dụng thực tế ngay từ đầu
thế kỷ trước, khi mà một người
nào đó đă nảy ra ư nghĩ rất hay là
dùng nó để làm b́nh bảo quản axit
sunfuric đậm đặc. Từ đó, tính
bền vững rất cao của platin đối
với các axit khiến cho nó được đón
tiếp nồng nhiệt trong các pḥng thí
nghiệm hóa học, nơi mà nó được
chế tạo làm vật liệu để
chế tạo nồi nung, chén nung, lưới,
ống và các dụng cụ thí nghiệm khác.
Một lượng lớn platin cũng được
sử dụng vào việc chế tạo các khí
cụ chịu axit và chịu nóng ở các nhà máy
hóa chất.
Mặc dầu bộ “chân vịt” để
khuấy thủy tinh nóng chảy trong các nhà máy
thủy tinh nổi tiếng của Tiệp
Khắc tốn kém tới 75 vạn Krona (đơn
vị tiền Tiệp Khắc, 100 krona tương
đương với 12 rúp - N. D.), c̣n chiếc
nồi để nấu thủy tinh th́ đắt
gấp đôi, nhưng “cuộc vui cũng đáng
tiền đèn nến”: thiết bị như
vậy được coi là tân tiến nhất,
nó cho phép làm ra thủy tinh có chất lượng
cao để dùng làm kính hiển vi, ống nḥm
và các khí cụ quang học khác.
Các nhà hóa học c̣n t́m ra một công dụng
quan trọng nữa của platin: nó là chất xúc
tác đắc lực nhất đối với
nhiều quá tŕnh hóa học. Khả năng này
của platin đă cho phép các nhà sáng chế người
Hungary làm ra thứ bật lửa kiểu mới
trong thời gian gần đây. Bật lửa này
không có chiếc bánh khía cổ truyền, cũng
không cần đến đá lửa: do cọ xát
với không khí nên “ga” từ trong bật
lửa đi ra liền bùng cháy ngay. Nhưng
phản ứng này chỉ xảy ra khi có chất
xúc tác. Chiếc ṿng nhỏ xíu bằng platin đặt
trên đường mà “ga” đi qua chính là
chất xúc tác. Bật lửa như vậy không
sợ gió. Hơn thế nữa, gió càng to th́
phản ứng càng mạnh và ngọn lửa càng
dài. Khi đậy nắp ṿng lại, lửa
sẽ tắt.
Với tư cách là chất xúc tác, platin rất
cần cho việc oxi hóa amoniac trong quá tŕnh
sản xuất axit nitric. Hỗn hợp của
amoniac và không khí được thổi qua
một tấm lưới rất mảnh bằng
platin (có đến năm ngàn lỗ trên một
xentimet vuông) với tốc độ lớn,
ở đó sẽ tạo thành nitơ oxit và hơi
nước. Ḥa tan nitơ oxit trong nước
sẽ được axit nitric.
Platin đă đi vào thực tiễn sản
xuất axit nitric ở quy mô công nghiệp nhờ
công tŕnh nghiên cứu của I. I. Anđreep - người
đi tiên phong trong công nghiệp axit nitric của nước
Nga, người đă từng nghiên cứu
ảnh hưởng của các chất xúc tác khác
nhau đối với việc oxi hóa amoniac trong
suốt một thời gian dài. Việc đó
đă xảy ra trong những năm chiến tranh
thế giới thứ nhất, khi mà nhu cầu
về axit nitric tăng lên đột ngột v́
nó rất cần cho việc sản xuất các
chất nổ: cứ mỗi kilôgam thuốc
nổ tiêu tốn hơn hai kilôgam axit nitric. Đến
cuối năm 1916, nhu cầu chất nổ trong
mỗi tháng của quân đội Nga là vào
khoảng 6400 tấn. Chỉ ở Chilê mới có
nguyên liệu thiên nhiên để điều
chế axit nitric, v́ vậy, tất cả các nước
tham chiến đều chịu nạn đói axit
nitric vô cùng gay gắt nên phải ráo riết t́m
cách làm dịu cơn đói này.
Lúc bấy giờ, Anđreep đă đề
nghị sử dụng amoniac có trong băi thải
của các xưởng sản xuất than cốc
làm nguyên liệu dùng thử. Công tŕnh nghiên
cứu do ông tiến hành đă làm cho ông ta tin
ở khả năng xúc tác rất tốt của
platin và tin rằng, nếu có mặt platin th́
amoniac sẽ bị oxi hóa rất mạnh. Theo đề
nghị và theo dự án của ông, người ta
đă xây dựng nhà máy sản xuất axit nitric
ở Đônbat, nơi tập trung các xí nghiệp
luyện than cốc nên có đủ amoniac. Mùa hè
năm 1917, nhà máy này cho ra mẻ sản phẩm
đầu tiên - thế là vấn đề axit
nitric đă được giải quyết
tốt đẹp.
Qua sự việc sau đây có thể thấy rơ
ư nghĩa của platin: năm 1918, một viện
chuyên nghiên cứu về kim loại này đă
được thành lập ở Nga, sau này
được ghép vào viện hóa học đại
cương và hóa học vô cơ thuộc
viện hàn lâm khoa học Liên Xô. Hiện nay
ở đây vẫn đang tiến hành công tác
nghiên cứu khoa học liên quan với hóa học
và công nghệ về các kim loại thuộc nhóm
platin.
Ngày nay, không phải chỉ các nhà hóa học
mới cần platin. Khả năng gắn rất
tốt với thủy tinh đă làm cho nó trở
thành vật liệu quan trọng để sản
xuất nhiều khí cụ bằng thủy tinh.
Tráng một lớp mỏng kim loại này lên kính
sẽ được loại gương platin có
một tính chất đặc biệt - đó là
tính trong suốt từ một phía: từ phía
nguồn sáng, gương này không trong suốt và
phản chiếu các vật ở đằng trước
nó y như tấm gương b́nh thường. Nhưng
từ phía bên kia, nó lại trong suốt như
một tấm kính, do đó, bạn có thể
nh́n được tất cả những ǵ
ở phía khác. Có một thời, gương
platin rất thông dụng ở Mỹ. Người
ta lắp chúng thay cho kính cửa sổ ở các
tầng dưới cùng của các công sở, c̣n
trong các nhà ở th́ chúng thay thế màn che
cửa rất tốt.
Nhân đây xin nói thêm rằng, gương platin
đầu tiên không hề có thủy tinh, mà toàn
bằng kim loại là do người Aztec (một
bộ tộc thổ dân châu Mỹ) làm ra. Đó
là những lá platin được gia công rất
tốt và được mài nhẵn đến
mức bóng nhoáng. Họ đă làm việc đó
như thế nào th́ cho đến nay vẫn chưa
ai biết, bởi v́ platin chỉ dễ rèn khi
được nung nóng đến mức sáng
trắng lên, nghĩa là ở nhiệt độ
rất cao mà các nhà luyện kim thời bấy
giờ chưa thực hiện được. Nhưng
dẫu họ làm bằng cách nào, vị thủ lĩnh
của người Aztec là Montezuma đă gửi
vài tấm gương như vậy làm quà
tặng vua Tây Ban Nha. Và nhà vua đă “rảnh
nợ”: năm 1520, Montezuma đă bị bọn
thực dân bắt giam và sau đó đă bị
giết.
Platin ở dạng xốp hút được
rất nhiều khí. Tính chất này là nguyên nhân
của một hiện tượng kỳ lạ:
khi bị đốt nóng, hiđro hoặc oxi
chứa trong b́nh kín bằng platin sẽ thoát ra
ngoài qua thành b́nh y như chui qua các lỗ rây.
Platin cũng tỏ ra rất đắc lực
trong việc đo nhiệt độ cao. Trong
kỹ thuật, các nhiệt kế platin kiểu
điện trở được sử dụng
khá rộng răi. Nguyên tắc làm việc của
chúng dựa trên cơ sở sau đây. Khi đốt
nóng, điện trở của platin tăng lên
tùy thuộc nhiệt độ theo một quy
luật nghiêm ngặt. Sợi dây platin được
nối với một khí cụ ghi lại sự
thay đổi của điện trở sẽ
tức th́ báo cho khí cụ đó biết mọi
sự thay đổi nhiệt độ, dù là
rất nhỏ.
Các cặp nhiệt độ c̣n thông dụng hơn
nữa: Đây là những khí cụ đo
nhiệt độ không phức tạp nhưng
rất nhạy. Nếu hàn hai sợi dây bằng
hai kim loại khác nhau, sau đó đốt nóng
chỗ hàn th́ sẽ xuất hiện ḍng điện
chạy trong mạch. Nhiệt độ đốt
nóng càng cao th́ sức điện động phát
sinh trong mạch cặp nhiệt càng lớn. Để
chế tạo các cặp nhiệt, người ta
thường dùng platin và một hợp kim của
nó với rođi hoặc iriđi.
Hăy đo nhiệt độ - Ba chiếc ch́a khóa
- Ngang hàng với platin - “ Dùng cho mọi thời
đại, dùng cho mọi dân tộc” - Những
tia màu da cam - Platin chuẩn đoán bệnh - Không
cảm thấy đau - Bộ quần áo tắm
b́nh dị - Vinh dự lớn lao.
Cùng với iriđi, platin đă được
phó thác nhiệm vụ quan trọng nhất
của xă hội trong một thời gian dài. Trên
đại lộ Maxcơva ở Lêningrat có
một ṭa nhà mà nếu nh́n bề ngoài th́ không
có ǵ đáng chú ư lắm, ở cổng ra vào có
một tấm biển màu đen đề chữ
“Các mẫu chuẩn quốc gia của Liên Xô”
bằng tiếng Nga và tiếng Pháp. Đó là
một trong những ṭa nhà của viện nghiên
cứu khoa học về đo lường toàn
liên bang mang tên Đ. I. Menđelêep. Mẫu
chuẩn kilôgam chế tạo từ năm 1883
bằng hợp kim của platin (90 %) với iriđi
(10 %) được cất giữ ở đây,
sau những tấm của dày của một căn
pḥng bằng sắt.
Trong pḥng này, nhiệt độ và độ
ẩm được giữ không thay đổi,
và chỉ có thể vào pḥng khi có mặt ba người:
giám đốc của viện, nhà khoa học
bảo quản các mẫu chuẩn quốc gia và
nhà khoa học trông coi mẫu này. Mỗi người
trong ba người đó giữ một ch́a khóa
chỉ để mở một trong ba cửa
của pḥng. Mẫu chuẩn là một khối
trụ tṛn, có chiều cao, và đường
kính bằng 39 milimet, được đặt
trên chân đế bằng thạch anh, trên đó
úp hai cái chuông bằng thủy tinh.
Cứ sau một kỳ hạn nhất định,
mẫu chuẩn quốc gia lại được
“sát hạch” các mẫu chuẩn thứ cấp
ở chiếc cân rất nhạy, cảm nhận
được ngay cả hơi thở của con
người. Để tránh những rung động,
dù là rất nhỏ do sự đi lại ngoài
đường phố hoặc do sự làm
việc của các máy móc trong chính ṭa nhà gây ra,
chiếc cân được đặt trên bệ
móng cao 7 mét. Để giữ cho nhiệt độ
và độ ẩm trong pḥng không thay đổi,
cái cân được điều khiển từ
pḥng bên cạnh.
Mặc dầu được bảo quản
rất cẩn thận, sau hơn một trăm năm
tồn tại, khối lượng của các
mẫu chuẩn quốc gia vẫn bị giảm
đi 0,017 miligam. Nhưng sự thiếu hụt
này rất không đáng kể, cho nên, đến
tháng tư năm 1968, khối trụ tṛn platin -
iriđi đó vẫn được duyệt làm
mẫu chuẩn kilôgam quốc gia của Liên Xô.
Cũng chính trong căn pḥng này, một thanh platin
- iriđi mà cách đây không lâu đă được
dùng làm mẫu chuẩn mét quốc gia được
bảo quản trong một cái hộp đặc
biệt. Đơn vị độ dài này đă
được quy định ở Pháp năm
1791; nó bằng một phần bốn mươi
triệu chiều dài kinh tuyến Pari. Tám năm
sau, mẫu chuẩn mét đầu tiên được
chế tạo xong, mà hiện giờ c̣n đang
đặt tại viện cân - đo quốc
tế ở Pari. Trên mẫu chuẩn này có
khắc ḍng chữ: “Dùng cho mọi thời đại,
dùng cho mọi dân tộc”. Mét đă thực
sự trở thành thước đo độ
dài phổ cập nhất trên hành tinh chúng ta.
Từ năm 1889 đến thời gian gần
đây, bản sao chính xác của mẫu chuẩn
Pari (cũng được làm bằng chính
thứ hợp kim theo cùng một cách nấu
luyện như vậy) đă được dùng
làm “mẫu chuẩn chính” của Liên Xô.
Các nhà bác học luôn luôn t́m các cách thức
mới đề nâng cao độ chính xác
của các mẫu chuẩn, và đến năm
1960, thanh platin - iriđi đành phải “từ
chức”. Tia sáng của đèn kripton đă thay
thế nó. Độ dài bằng 1650763,73 lần bước
sóng bức xạ da cam của kripton - 86 đă
được dùng làm mẫu chuẩn mét hơn
hai mươi năm nay. Nhưng sử dụng
mẫu chuẩn ấy như thế nào? Những
mối quan tâm này được giao cho một
khí cụ so giao thoa đặc biệt giải
quyết, nó xác định xem bước sóng có
được đặt đủ một số
lần cần thiết trong độ đo
của mét cần đối chiếu hay không. Nhưng
cuộc sống không dẫm chân tại chỗ,
và năm 1983, đại hội quốc tế
của các nhà đo lường đă thông qua
một định nghĩa mới về mét,
từ đó trở đi, mét là khoảng cách mà
tia laze đi được trong chân không sau
1/292791458 giây.
C̣n có một mẫu chuẩn khác nữa là
mẫu chuẩn ánh sáng cũng liên quan trực
tiếp với platin. Để làm mẫu
chuẩn, người ta dùng sự phát quang đi
từ khoang đèn ống (dùng thori oxit đang
đông đặc làm vật liệu) nhúng trong
platin nóng chảy. Phép đo được
thực hiện trong thời gian đông đặc
của platin. Bởi v́ nhiệt độ của
platin trong thời gian ấy không thay đổi
nên đơn vị cường độ ánh
sáng (nến, hoặc canđela) được
tạo lại với độ chính xác rất
cao.
Platin đă giành được chỗ đứng
vững chắc trong y học. Các điện
cực platin đưa vào mạch máu đă giúp
các nhà phẫu thuật ở nhiều nước
trong việc chuẩn đoán nhiều loại
bệnh, chủ yếu là các bệnh về tim. Phương
pháp này là phương pháp platin - hiđro v́ nó
dựa trên phản ứng điện hóa học
giữa hai nguyên tố này.
Cách đây không lâu lắm, các thầy thuốc
ở bang Ohaio (nước Mỹ) đă t́m ra
một công dụng quan trọng và lư thú của
platin. Họ đă phát minh một phương
pháp gây mê hoàn toàn mới về nguyên tắc, như
sau: một bản platin dài vài xentimet được
dùng để nối tuỷ sống với
một nguồn điện kích thích; với
một cử động rất nhỏ của người
bệnh, khí cụ này sẽ truyền tín hiệu
lên năo, bằng cách đó sẽ khống chế
được cảm giác đau.
Các chuyên gia về kỹ thuật trồng răng
rất ưa chuộng platin v́ nó không bị oxi
hóa, mà đó là tính chất quan trọng nhất
của vật liệu làm răng giả. Tuy nhiên,
platin ở dạng tinh khiết lại quá mềm,
không đủ độ cứng để đảm
đương vai tṛ này, nhưng các hợp kim
của nó có độ bền cao th́ được
dùng làm vành răng và răng giả rất
tốt. Lúc đầu, người ta pha thêm
bạc và niken vào platin để tăng độ
cứng; về sau đă sử dụng vàng và các
kim loại thuộc nhóm platin vào mục đích
này. Khi kết hợp với các nguyên tố này,
platin vốn đă chống được sự
ăn ṃn lại có thêm khả năng chống
mài ṃn rất cao nữa, nên bất cứ vật
nào cứng nhất nó cũng không sợ.
Hiện nay, một phần không nhỏ platin khai
thác được trên thế giới lọt vào
tay những người thợ kim hoàn, v́ sau khi
giá kim loại này vượt quá giá vàng vài
lần, họ bắt đầu tỏ rơ mối
quan tâm đặc biệt với nó. Ngay từ trước
chiến tranh thế giới thứ nhất, các
đồ nữ trang như nhẫn, trâm cài đầu,
hoa tai v. v… bằng platin đă đi vào thời
trang. Đôi khi do tính ngông nghênh của những
kẻ giàu có, kim loại này đành đóng vai
tṛ không lấy ǵ làm vinh hạnh lắm: nó
được dùng làm chuối dây xích cho
những con chó xù hoặc làm lồng nhốt con
vẹt biết nói. Cách đây mấy năm,
ở Luân Đôn người ta đă trưng bày
một mặt hàng mới trong mùa tắm biển
- một bộ đồ tắm kiểu “mini -
bikini”. Giá tiền bộ đồ tắm
“giản dị” này chỉ… vẻn vẹn 50
ngàn đô la, bởi v́ nó được làm
bằng sợi platin, ngoài ra, c̣n đính các đồ
trang sức khác bằng platin, tuy b́nh dị nhưng
hợp thị hiếu. Thật là dễ hiểu
trong thời gian trưng bày bộ quần áo
tắm, một vệ sĩ có vũ trang luôn luôn
đi kèm người làm mẫu. Nhưng nếu
trong pḥng trưng bày chỉ có một lính gác là
đủ, th́ trên băi biển phải cần
đến một đại đội vệ sĩ.
Tuy nhiên, đó chỉ là những chuyện
vặt vănh.
Bên cạnh platin nguyên chất, những người
thợ kim hoàn c̣n sử dụng những hợp
kim của nó với các kim loại khác được
pha vào để tăng độ cứng,
hoặc để làm cho đồ trang sức
rẻ bớt, hợp với những khách hàng tuy
không có tiền dư dật, nhưng lại không
chịu lạc hậu với thời trang.
Ở Liên Xô platin được hưởng
một vinh dự lớn: h́nh nổi của V. I.
Lênin trên tấm huân chương cao nhất
của Liên Xô được làm bằng platin. Trước
dịp thế vận hội Olympic lần thứ
XXII diễn ra ở Maxcơva năm 1980 đă phát
hành đồng tiền Olympic của Liên Xô .
Những đồng tiền quư nhất có giá
trị 150 rúp được làm bằng platin.
|
|