|
Ngoại lệ của các quy tắc -
Những người họ hàng xa - Cái búa
bằng thủy ngân - Các lực sĩ cử
tạ phải ngạc nhiên - Tại sao Ivan Hung
bạo lại hung bạo? - Đóng vai tṛ một
nhân chứng - Tṛ tiêu khiển của vua nước
Anh - Thảm kịch trên tàu “Khải hoàn” -
Bị pháp luật nghiêm cấm - Thanh danh
được khôi phục.
Hơn hai trăm năm trước đây, M. V. Lơmanôxop
đă nêu một định nghĩa rơ ràng và
đơn giản về khái niệm “kim
loại”, Ông đă viết: “Kim loại là
những vật thể rắn, dễ rèn và sáng
ngời”. Thật vậy, sắt, nhôm, đồng,
vàng, bạc, ch́, thiếc và các kim loại khác mà
ta đă có dịp tiếp xúc đều hoàn toàn
phù hợp với cách diễn đạt như
vậy. Nhưng không phải vô cớ mà người
ta nói rằng, chẳng có quy tắc nào mà không có
ngoại lệ. Trong thiên nhiên có gần tám mươi
kim loại, nhưng trong số đó chỉ có
một thứ ở thể lỏng trong những
điều kiện b́nh thường. Có lẽ các
bạn đă đoán ra, đây muốn nói đến
thủy ngân.
Qua thí dụ về thủy ngân và đối
thể của nó là vonfram, chúng ta có thể
thấy rơ rằng, tính chất của các kim
loại thay đổi trong một khoảng
rất rộng. Nếu vonfram nóng chảy ở
3410 độ C (để dễ h́nh dung, các
bạn hay so sánh nhiệt độ của
ngọn lửa trong khoang làm việc của ḷ
Mactanh ngay cả ở tiêu điểm cháy cũng
không quá 2000 độ C), th́ thủy ngân ngay
cả khi giá rét kinh khủng cứ vẫn ở
thể lỏng và chỉ đông đặc ở
- 38,9 độ C. Như các bạn thấy đấy,
tuy thủy ngân và vonfram đều thuộc đại
gia đ́nh các kim loại, nhưng chúng là
những kẻ “họ hàng xa” với nhau.
Lần đầu tiên, thủy ngân đă
được làm đông đặc vào năm
1759. Ở trạng thái rắn, nó là một kim
loại hơi xanh, có ánh như bạc, nh́n
bề ngoài th́ hơi giống ch́. Nếu rót
thủy ngân vào cái khuôn có h́nh dạng như cái
búa, sau đó làm nguội thật nhanh, bằng không
khí lỏng chẳng hạn, cho đến khi đông
đặc, th́ có thể dùng cái búa thủy ngân
để đóng đinh vào ván, nhưng phải
đóng thật nhanh, v́ dụng cụ này
chẳng lâu bền ǵ đâu, nó có thể tan ngay
trước mắt bạn.
Thủy ngân là chất lỏng nặng nhất
trong tất cả mọi chất lỏng mà người
ta đă biết: mật độ của nó
bằng 13,6 gam trên một xentimet khối. Điều
đó có nghĩa là một lít thủy ngân
nặng hơn một xô nước. Nếu
một lực sĩ cử tạ nào đó không
đặt quả tạ trên sàn mà thả vào
một bể thủy ngân th́ quả tạ
rất nặng ấy sẽ không ch́m mà cứ
nổi bồng bềnh trên bề mặt kim
loại này, giống như cái nút bấc trong nước
vậy, bởi v́ sắt nhẹ hơn thủy ngân
rất nhiều.
Con người đă quen biết thủy ngân
từ thời tiền sử. Nó đă được
nói đến trong tác phẩm của Arixtoten,
Theophrat, Plini Bố, Vitruviut và của nhiều nhà
bác học khác thời cổ. Tên La tinh của kim
loại này là “hydrargyrum”, nghĩa là “nước
bạc”, do Đioxcorit - một thầy thuốc
Hy Lạp từng sống hồi thế kỷ I trước
công nguyên đặt ra. Từ thời bấy
giờ, vị thầy thuốc này đă đề
cập đến thủy ngân - điều đó
chẳng có ǵ đáng ngạc nhiên, v́ từ
thời cổ sơ, con người đă
biết khá rơ những tính chất chữa
bệnh của nó. Thực ra, đôi khi việc
sử dụng thủy ngân vào mục đích
chữa bệnh chỉ là theo cảm tính.
Chẳng hạn, trong sách vở cũ có mô tả
những trường hợp khi bị xoắn
ruột, người ta rót một lượng
thủy ngân nào đó (chừng 200 - 250 gam) vào
dạ dày người bệnh. Theo ư kiến
của các vị thầy thuốc thời xưa
từng sử dụng phương pháp điều
trị này th́ nhờ có tỉ trọng lớn và
tính cơ động cao, thủy ngân có thể
luồn lách vào những đoạn ruột quanh
co để sửa nắn lại các đoạn
ruột bị xoắn. Ta có thể h́nh dung
được, những cuộc thực nghiệm
như vậy hẳn phải dẫn đến
những hậu quả ra sao.
Ở thời đại chúng ta, chứng xoắn
ruột được chữa bằng những phương
pháp khác bảo đảm hơn, nhưng hiện
nay, các hợp chất của thủy ngân vẫn
được sử dụng rộng răi trong y
học, chẳng hạn, thủy ngân (II) clorua
(HgCl2) có các tính chất sát trùng; calomen (Hg2Cl2)
được dùng làm thuốc xổ; mercuzan
được dùng làm thuốc thông tiểu
tiện; một số thuốc mỡ chứa
thủy ngân được dùng làm thuốc
chữa bệnh ngoài da và một số bệnh khác.
Tuy nhiên, thủy ngân không phải chỉ có tác
dụng chữa bệnh mà có thể gây tai
biến đối với cơ thể nữa:
nhiều hợp chất của thủy ngân và ngay
cả hơi thủy ngân nhiều khi gây ngộ
độc cấp tính hoặc hủy hoại
dần sức khỏe và tinh thần của con người.
Các nhà y học đă xác định được
rằng, ngộ độc thủy ngân thường
dẫn đến những cơn nổi khùng vô
cớ. Điều đó là cơ sở khiến
các nhà sử học nêu ra giả thuyết sau
đây. Sa Hoàng Ivan Hung bạo (Tức là Ivan IV
Vaxilievich (1530 - 1564), ông vua đầu tiên của
“toàn cơi Nga” từ năm 1547 (N. D.).) vốn
bị hành hạ bởi những cơn đau xương
nhức nhối nên đă sử dụng các
thứ thuốc mỡ chứa thủy ngân trong
một thời gian dài; chính các thuốc ấy
đă khiến cho ông ta mắc chứng nổi khùng
không thể kiềm chế được, và
trong một cơn cuồng nộ như vậy, ông
ta đă giết con trai của ḿnh. Các triệu
chứng nhiễm độc thủy ngân c̣n
biểu hiện ở những đặc điểm
khác của ông vua hung bạo này: ông ta thường
xuyên bị ám ảnh bởi những ảo giác
vớ vẩn, những cơn ngờ vực, luôn
luôn có cảm giác về những tai họa
sắp xảy ra. Việc khảo cứu giải
phẫu bệnh lư trên hài cốt của ông vua này
đă xác nhận tính đúng đắn của
giả thuyết đó: hàm lượng thủy ngân
trong xương của nhà vua quả là khá cao.
Thủy ngân đă đóng vai tṛ định
mệnh trong số phận của các vua chúa khác
ở châu Âu. Hồi thế kỷ XVI, vua Erich XIV
đă trị v́ ở nước Thụy Điển.
Năm 1568, ông ta bị em ḿnh là Johan III truất
khỏi ngai vàng v́ người em muốn giành
giật quyền lực bằng bất cứ giá
nào. Một số tư liệu lịch sử c̣n
giữ được đến ngày nay đă ám
chỉ rằng, Erich XIV đă bị đầu
độc. Các nhà bác học Thụy Điển
đă quyết định kiểm tra lại xem có
đúng như vậy hay không. Nhưng làm thế
nào để tái hiện bức tranh của các
sự kiện từng xảy ra hơn bốn trăm
năm trước đây? Nhờ các phương
pháp phân tích hiện đại dựa trên
những thành tựu của vật lư hạt nhân,
điều mà trước đây không thể làm
được th́ nay đă có thể thực
hiện được. Bởi v́ hài cốt
của nhà vua đến nay vẫn c̣n nên râu tóc
của ông ta đă được nghiên cứu
rất kỹ. Và đă khám phá ra điều ǵ?
Hàm lượng thủy ngân trong tóc của nhà vua
cao hơn hẳn mức b́nh thường như
vậy, ức thuyết về việc đầu
độc vua Erich XIV đă được khoa
học xác nhận một cách chắn chắc.
Như các nhà sử học từng nghiên cứu các
kho lưu trữ của thế kỷ XVII đă
khẳng định, sự nhiễm độc
thủy ngân cũng là nguyên nhân gây nên cái
chết của vua Carl (Charles) II thuộc triều
đại Stuart ở nước Anh. Thực ra th́
trong trường hợp này, chính nạn nhân
lại là thủ phạm. V́ say mê những ư tưởng
giả kim thuật, nhà vua đă trang bị
một pḥng thí nghiệm trong cung đ́nh; tại
đó, ông ta đă sử dụng tất cả
mọi thời giờ rảnh rỗi ngoài công
việc quốc gia và săn bắn để nung
thủy ngân - một chất rất quen thuộc
với các nhà giả kim thuật. Các nhà bác
học đă t́m được những tài
liệu, trong đó mô tả các triệu chứng
bệnh tật của Carl II như tính cáu
gắt, chứng co giật, bệnh niệu độc
(uremua - bệnh đái ra các chất độc)
kinh niên. Các bệnh này do tác động lâu dài
của hơi thủy ngân gây ra. Không thể
cứu được nhà vua, mặc dầu các
vị ngự y đă thử dùng đủ
mọi phương thuốc hiệu nghiệm
nhất của y học thời bấy giờ: hút
máu, uống kư ninh, và cả chườm nóng
ở đầu.
Người ta c̣n biết một sự việc
nữa: năm 1810, trên chiếc tàu “Khải hoàn”
của nước Anh, hơn hai trăm người
đă bị ngộ độc do thủy ngân trong
thùng trào ra.
Không có ǵ đáng ngạc nhiên khi ở Liên Xô và
nhiều nước khác, pháp luật tuyệt
đối nghiêm cấm một số ngành sản
xuất các chất màu chứa thủy ngân. Trong
trường hợp bắt buộc phải dùng
đến thủy ngân. Th́ phải áp dụng
những biện pháp pḥng ngừa để
bảo vệ sức khỏe cho công nhân khỏi
ảnh hưởng tai hại của nó.
Trong thiên nhiên không có nhiều thủy ngân. Đôi
khi bắt gặp nó ở dạng tự sinh - dưới
dạng những giọt nhỏ li ti. Khoáng vật
chủ yếu của thủy ngân là thần sa
(HgS). Đó là một thứ đá đẹp,
tựa như được bao phủ bởi
những vết máu đỏ tươi. Có
một t́nh tiết lư thú liên quan tới thần
sa. Chúng ta đều biết rằng, trong thời
gian gần đây, các nhà địa chất
vẫn tiến hành những cuộc thực
nghiệm về việc sử dụng chó để
t́m kiếm các khoáng sản. Khi một nhóm chó
becgiê đă qua một thời kỳ huấn
luyện, người ta tổ chức cho chúng
một cuộc “sát hạch”: trong số
nhiều mẫu khoáng vật, chúng phải t́m ra
thần sa. Các con chó đă nhanh chóng phát hiện
được khoáng vật này, nhưng chúng
vẫn chưa yên tâm với điều đă làm
được: dường như đă ước
hẹn với nhau, tất cả bọn chúng đều
nhận thêm canxi màu hồng và coi đó cũng là
thần sa. Lúc đầu, các nhà địa
chất đều cười một cách rộng
lượng, nhưng sau đó họ đă
quyết định làm sáng tỏ nguyên nhân
sự nhầm lẫn chung này của các con
vật dự thi. Hóa ra là bên trong những mẫu
canxi màu hồng có những vết đốm
thần sa. Thế là “thanh danh” của các “nhà
địa chất bốn chân” đă được
khôi phục.
La Mă mua thủy ngân - “Những ngón nghề”
của Thành Cát Tư Hăn - Chữ đề trong
cung điện của các vua Akhemenit - Sự ham thích
“thời thượng” - Vua chúa cũng xây
dựng pḥng thí nghiệm - Tṛ ảo thuật
của bọn bịp bợm thời trung cổ -
Các phương án có thể - Những cuộc thí
nghiệm lén lút - Dưới bàn tay độc ác
- Thần Mercury tháo vát.
Mỏ thủy ngân lớn nhất thế giới
là ở Anmađen (thuộc Tây Ban Nha). Cho đến
gần đây, mỏ này đă cung cấp gần
80 % lượng thủy ngân khai thác được
trên toàn thế giới. Trong các tác phẩm
của ḿnh, Plini Bố có kể rằng, mỗi năm,
La Mă mua của Tây Ban Nha vài tấn thủy ngân.
Mỏ Nikitop (ở Đônbat) là một trong
những mỏ thủy ngân cổ xưa nhất
ở Liên Xô. Ở đây, dưới những
độ sâu khác nhau (đến 20 mét) đă phát
hiện được những hầm ḷ cổ,
trong đó có thể t́m thấy những công
cụ lao động như những chiếc búa
bằng đá.
C̣n một mỏ thủy ngân cổ hơn nữa
- đó là mỏ Khaiđarcan (“Mỏ vĩ đại”)
nằm trong thung lũng Fergana thuộc nước
cộng ḥa Kirghizia. Ở đây vẫn c̣n
lại rất nhiều vết tích của
những công tŕnh khai thác cổ xưa: những
hầm ḷ lớn, những cái nêm bằng kim
loại, chân nến, b́nh bằng đất sét
để nung thần sa, hàng đống mẩu
nến đă cháy gần hết. Các cuộc khai
quật khảo cổ học đă cho biết
rằng, tại thung lũng Fergana, thủy ngân
đă được khai thác suốt nhiều
thế kỷ; măi cho đến thế kỷ XIII
- XVI, sau khi Gingis Khan (Thành cát tư hăn) và
những kẻ kế vị của y hủy
diệt các trung tâm thủ công nghiệp và buôn bán
ở đây, dân chúng mới chuyển sang lối
sống du mục, và việc khai thác thủy ngân
mới dừng lại.
Ở trung Á, xưa kia cũng đă khai thác các
mỏ thủy ngân khác nữa. Chẳng hạn,
những ḍng chữ khắc chạm trong cung điện
của các triều vua Akhemenit (thế kỷ VI - IV
trước công nguyên) của nước Ba Tư
cổ đại ở Susa nói lên rằng,
thần sa (mà thời bấy giờ đă
được dùng làm thuốc nhuộm) đă
được đưa lên từ dăy núi Zerapsan
nằm trên địa phận các nước
cộng hoà Tajikixtan và Uzbekixtan ngày nay. Có lẽ
ở đây thuỷ ngân đă được
khai thác từ giữa thế kỷ thứ
nhất trước công nguyên.
Lao động của phu mỏ trước đây
rất nặng nhọc và độc hại. Nhà văn
R. Kipling đă viết những ḍng như sau: “Tôi
thà chọn cái chết tồi tệ nhất c̣n hơn
là phải làm việc trong các mỏ thủy ngân,
nơi mà răng bị mục dần trong
miệng…”. Cho đến nay, trong các hầm ḷ
quanh co ngoắt ngoéo, nơi mà xưa kia đă khai
thác thủy ngân, có thể t́m thấy vô số xương
người. Phải trả một giá rất
đắt - hàng ngàn sinh mạng - để đổi
lấy thứ đá đỏ mà dường như
đă nhuốm máu tất cả những ai
từng xâm nhập vào các kho tàng thủy ngân.
Thời trung cổ, việc khai thác thủy ngân
đă đạt đến mức đáng
kể, v́ nó là thời kỳ mà nghề giả
kim thuật thu hút nhiều người ở
khắp mọi nơi. Sở dĩ các nhà giả
kim thuật rất chú ư đến thủy ngân là
v́ theo lư luận của họ, th́ thủy ngân, lưu
huỳnh và muối được xếp vào hàng
“các nguyên tố khởi thủy”. Thủy ngân
được họ coi là “bản nguyên của
muôn vật”: “… nhờ có nhiệt nên băng
tan ra thành nước, nghĩa là băng từ nước
mà ra; các kim loại tan trong thủy ngân, thế
nghĩa là, thủy ngân là chất nguyên sơ
của các kim loại này”.
Như vậy, các nhà giả kim thuật đă
được trang bị một thứ lư
luận khoa học vững chắc, chỉ c̣n
phải t́m ra “ḥn đá mầu nhiệm”
(nhờ nó mà có thể biến thủy ngân thành
vàng) rồi chỉ cần việc xắn tay áo lên
và bắt tay vào việc. Nhưng khốn nỗi,
việc t́m kiếm “ḥn đá mầu nhiệm”
vẫn kéo dài, mặc dầu các nhân vật có
quyền thế như vua Henri VI của nước
Anh, hoàng đế Ruđon II của đế
chế La Mă thần thánh và các vua chúa khác ở
châu Âu rất quan tâm đến kết quả may
mắn của việc t́m kiếm này: họ đă
xây dựng các pḥng thí nghiệm giả kim
thuật lớn bên cạnh cung điện của
ḿnh.
Thực ra, các cuộc nghiên cứu này cũng mang
lại một số kết quả nào đó.
Một nhà giả kim thuật trong cung đ́nh
của vua Henri VI đă phát hiện ra rằng, khi
được xoa một lớp thủy ngân,
đồng sẽ có ánh bạc, và nhà vua đă
vận dụng thiết thực phát minh này vào
đời sống: ông ta cho phát hành một
loạt lớn tiền đồng, làm ra vẻ như
tiền bằng bạc, nhờ thế mà “bỏ
túi” được một món tiền lớn.
Dần dần ở nhiều nước khác nhau
xuất hiện những người tưởng
như đă nắm được bí mật
của “ḥn đá mầu nhiệm”. Đôi khi,
đó là những nhà bác học bị nhầm
lẫn, nhưng thường th́ đó là
những tay bịp bợm biết khá nhiều cách
“thu được” vàng nhân tạo. Một
trong những tṛ bịp bợm như sau. Trước
mắt công chúng, nhà giả kim thuật dùng
chiếc đũa gỗ khuấy ch́ nóng chảy
hoặc thủy ngân trong nồi nung; trong nồi
đó đă có sẵn vài hạt vàng. Một
phần vàng này sẽ ḥa tan trong kim loại nóng
chảy. Tất nhiên, sau “thí nghiệm”, trong
nồi nung thế nào cũng có thể t́m
thấy dấu vết của vàng “chứng
tỏ” có sự biến hóa thần diệu. Song
những tin đồn về những nhà ảo
thuật này sớm hay muộn ǵ th́ cũng đến
tai vị vua chúa trị v́ trong nước, lúc
bấy giờ th́ hoặc là họ đành
phải thú nhận tội lừa bịp, hoặc
là phải tổ chức sản xuất vàng hàng
loạt trong cung đ́nh; nhưng ở đó,
chiếc đũa gỗ chẳng làm nên tṛ
trống ǵ.
Thông thường, kẻ giả kim thuật
bị vạch mặt giả dối cũng
giống như những tên làm tiền giả - chúng
đều bị xử giảo trên chiếc giá
treo cổ mạ vàng, trong bộ quần áo
rắc kim nhũ. Tuy vậy, cũng có những
kiểu hành h́nh khác. Chẳng hạn, năm 1575,
Quận công xứ Lucxembua đă thiêu sống
một người đàn bà giả kim thuật tên
là Maria Ziglerin trong cũi sắt v́ bà này không cho
ông ta biết thành phần của “ḥn đá
mầu nhiệm” mà chính bà ta cũng không hề
biết, mặc dầu khi đứng trước
tai họa, bà này đă khẳng định
rằng ḿnh không hề biết tí ǵ.
Sau đó một thời gian, nghề giả kim
thuật đă bị nhà thờ công giáo lên án
kịch liệt và chính thức bị nghiêm
cấm ở Anh, Pháp và các nước khác. Nhưng
những cuộc thí nghiệm lén lút của các nhà
giả kim thuật vẫn không chấm dứt, và
các vụ án tử h́nh vẫn tiếp diễn. Nhà
hóa học Pháp Jan Barilo (Jean Barillot) đă rơi vào
bàn tay độc ác và bị tử h́nh chỉ v́
ông đă nghiên cứu tính chất chất hóa
học của các nguyên tố trong pḥng thí
nghiệm của ḿnh. Những thí nghiệm
của ông bị coi là đáng ngờ và số
phận của nhà bác học đă được
quyết định ngay lập tức.
Trong các “đơn thuốc” giả kim thuật
c̣n lưu lại đến ngày nay, thủy ngân
thường được gọi là mercury.
Từ thời cổ La Mă, kim loại này đă
mang tên gọi đó, v́ các hạt thủy ngân có
khả năng chạy nhanh trên các bề mặt
nhẵn, mà theo ư của người La Mă th́
điều đó gợi nhớ đến
thần Mercury tinh ranh khôn khéo và tháo vát, là
vị thần phù hộ nghề buôn bán. Nhân
đây cũng nói thêm rằng, trong sách vở
về nghề giả kim thuật, các nguyên tố
khác cũng được “mă hóa”: vàng
được kư hiệu bằng biểu tượng
mặt trời, sắt - sao Hỏa, đồng -
sao Kim v. v… Bằng cách đó, các nhà giả kim
thuật giấu kín những hiểu biết
của ḿnh đối với những người
ngoài cuộc không quen thuộc những kư hiệu
của họ.
Tác phẩm của Monferran - Niềm vui quá sớm
- Sáp môi màu xanh - Cái ǵ được tạo ra
ở gần độ không? - Ferđinan II khuyên dùng
rượu - Những thử thách gay go - Giấy
thông hành vào đời.
Thủy ngân có khả năng ḥa tan nhiều kim
loại, tạo thành các “hỗn hống”
(amalgam). Từ trước công nguyên, người
ta đă nhận thấy điều đó. Các
hỗn hống đă giúp nhà bác học Anh Hămfri
Đêvi tách được bari, stronti, magie ở
trạng thái tự do lần đầu tiên trong
lịch sử: trước tiên, ông điều
chế hỗn hống của các kim loại này,
sau đó mới tách chúng ra khỏi thủy ngân.
Hỗn hống đă được dùng để
mạ một lớp vàng rất mỏng trên các ṿm
nhà thờ bằng đồng. Chẳng hạn, ṿm
nhà thờ Isaac được xây dựng ở
Petecbua trong những năm 1818 - 1858 theo thiết
kế của Monferran cũng được mạ
vàng theo phương pháp này.
Hơn 100 kilôgam vàng nguyên chất đă được
biến thành hỗn hống rồi đem tráng lên
những tấm đồng đường kính
gần 26 mét để ốp mái ṿm khổng
lồ của nhà thờ này. Bề mặt các
tấm đồng được cọ rửa
cẩn thận cho sạch hết dầu mỡ,
rồi được mài nhẵn và đánh bóng,
sau đó, chúng được phủ một
lớp hỗn hống - dung dịch vàng trong
thủy ngân. Tiếp đó, các tấm đồng
này được nung nóng trên những cái ḷ
đặc biệt cho đến khi thủy ngân
bốc hơi hết và để lại một
lớp vàng rất mỏng (vài micron) trên tấm
đồng. Nhưng đám hơi thủy ngân màu
xanh nhạt tưởng như tan biến mất
không c̣n dấu vết ǵ đă kịp đầu
độc những người thợ mạ vàng.
Mặc dù, theo quy tắc an toàn thời bấy
giờ, những người thợ mạ vàng
đă sử dụng những cái chụp bằng
thủy tinh để ngăn hơi thủy ngân,
nhưng những “bộ quần áo bảo hộ
lao động” này đă không thể cứu
họ khỏi bị ngộ độc. Nhiều
người đă chết trong những cơn
đau đớn thảm thương. Theo
chứng cớ của những người
đương thời, việc mà mái ṿm này
đă ngốn mất hàng chục sinh mạng người
thợ.
Không phải chỉ có những sự việc thương
tâm mà c̣n có những câu chuyện buồn cười
liên quan đến các hỗn hống. Người
ta kể rằng, hồi đầu thế kỷ
của chúng ta, một nhà nghiên cứu đă
thử điều chế vàng từ thủy ngân
bằng cách cho phóng điện mạnh vào hơi
thủy ngân. Ông đă tốn nhiều thời
gian và công sức, song cuối cùng đă đạt
được kết quả: những dấu
vết đầu tiên của vàng đă xuất
hiện trong thủy ngân. Nhà thực nghiệm vui
mừng khôn xiết. Nhưng ông phải thất
vọng biết bao khi vỡ lẽ ra rằng,
đó chỉ là dấu vết của vàng từ
cái gọng kính của ông ta rơi vào thủy ngân
mà thôi. V́ thỉnh thoảng phải dùng tay để
chỉnh lại kính trên mắt, mà trên tay lại
có những giọt thủy ngân nhỏ li tim, nên
nhà bác học đă đưa vàng ở dạng
hỗn hống vào chén thủy ngân mà ông ta đang
nghiên cứu.
Hiện nay, nhiều khi hỗn hống cũng
được sử dụng để mạ vàng
cho các sản phẩm bằng kim loại (tất
nhiên, công việc ở đây sẽ trôi chảy
vả không c̣n nguy hiểm nữa), sử dụng
trong việc sản xuất gương, trong
nghề chữa răng, trong các công việc ở
pḥng thí nghiệm. Muối thủ ngân của axit
fuminic, tức là thủy ngân fuminat (Hg(ONC)2),
được dùng làm thuốc nổ.
Trong kỹ thuật, thủy ngân ở dạng tinh
khiết cũng được sử dụng
rộng răi. Chẳng hạn, trong công nghiệp hóa
học, nó tham gia quá tŕnh sản xuất khí clo, xút
ăn da, axit axetic tổng hợp. Van thủy ngân dùng
để chỉnh lưu ḍng điện xoay
chiều, vừa bền vừa rất bảo
đảm. Các khí cụ đo lường và
tự động điều khiển được
lắp công tắc thủy ngân: chúng bảo đảm
việc đóng và ngắt mạch điện
một cách tức thời. Đèn thủy ngân -
thạch anh tạo ra bức xạ tử ngoài
rất mạnh: trong y học, loại đèn này
được sử dụng để khử trùng
không khí trong pḥng mổ, để chiếu
rọi cơ thể người với mục
đích chữa bệnh.
Hơi thủy ngân loăng trộn thêm khí agon
được dùng để nạp vào các
ống thủy tinh của đèn huỳnh quang.
Ngay từ trước chiến tranh thế
giới thứ hai, đèn hơi thủy ngân đă
được dùng thử để chiếu sáng
đường phố Goocki ở Maxcơva. Nhưng
được ít lâu th́ phải bỏ loại
đèn này v́ ánh sáng nhợt nhạt như thây
ma do chúng phát ra làm cho sắc mặt mọi người
giống như màu đất thó, trông thật khó
chịu, c̣n sáp môi màu đỏ tươi th́
biến thành màu xanh. Về sau, người ta
đă nghiên cứu các chất huỳnh quang đặc
biệt, nếu được dùng để
phủ lên bề mặt trong của ống đèn
th́ sẽ được ánh sáng có màu khác nhau,
nhất là loại ánh sáng rất giống ánh sáng
ban ngày.
Thủy ngân có “duyên nợ” với một trong
những phát minh khoa học quan trọng nhất
của thế kỷ chúng ta - đó là phát minh
về hiện tượng siêu dẫn. Năm 1911,
khi nghiên cứu tính chất của các chất
ở nhiệt độ thấp, nhà vật lư
học kiêm hóa học người Ha Lan Heike
Kemerling - Onet (Heike Kamerlingh - Onnes) đă khám phá ra
rằng, gần độ không tuyệt đối,
nói chính xác hơn ở 4,1 K, thủy ngân hoàn toàn
không có điện trở nữa. Hai năm sau
đó, nhà bác học này đă được
tặng giải thưởng Noben.
Năm 1922, những cống hiến khoa học
của nhà hóa học Tiệp Khắc Iaroxlap
Geiropxki (Jaroslav Heyrosky) cũng được đánh
giá cao như vậy. Ông đă phát minh ra phương
pháp cực phổ để phân tích hóa học,
trong đó, thủy ngân đóng vai tṛ khá quan
trọng.
Thủy ngân là tác nhân chủ yếu trong
nhiều khí cụ vật lư : áp kế kỹ
thuật, khí áp kế, bơm chân không. Nhưng có
lẽ nhiệt kế là khí cụ thuỷ ngân
phổ biến nhất.
Ở thế kỷ XVII, khi những khí cụ
đo nhiệt độ đầu tiên mới
được sáng chế, nước đă
được dùng làm chất lỏng để
chỉ thị nhiệt độ. Nhưng khi
gặp lạnh, nước đóng băng làm cho
thuỷ tinh bị vỡ và nhiệt kế bị
hỏng. Quận công Ferđinan II của xứ
Toxcan có lẽ là người sành rượu vang,
ông ta đề nghị dùng rượu vang thay cho
nước; nhờ vậy, nhiệt kế bền
chắc hơn, nhưng bởi v́ chất lượng
của rượu không phải lúc nào cũng
giống nhau nên người ta nhận thấy
những sai lệch rơ rệt ở độ
chỉ của các nhiệt kế khác nhau. Nhà
vật lư học Pháp Amonton là người đầu
tiên đă dùng thuỷ ngân để đo
nhiệt độ. Sau đó ít lâu, vào năm
1724, nhà vật lư học Đức Farengei
(Fahrenheit) đă chế tạo kiểu nhiệt
kế thuỷ ngân của ḿnh với thang chia
độ mà hiện nay vẫn được dùng
ở Anh và Mỹ.
Hiện nay, các nhiệt kế thuỷ ngân có
nhiều công dụng rất khác nhau. Cấu
tạo của nhiệt kế, nhất là cỡ
ống mao dẫn mà thuỷ ngân dịch chuyển
trong đó, phụ thuộc vào từng công
dụng. Ống mao dẫn của các nhiệt
kế y học có đường kính nhỏ
nhất - chỉ bằng 0,04 milimet. Để có
thể nh́n thấy cột thủy ngân hết
sức “mảnh dẻ” ấy bằng mắt thường,
ống mao dẫn được làm theo h́nh lăng
kính phóng đại ba mặt, ở mặt sau
được tráng một lớp men trắng làn
“nền”.
Để cho thủy ngân không tụt xuống khi
người ta chưa vẩy nó lên, cần
phải thu hẹp ống dẫn ở một
chỗ nào đó, nhưng không thể thu hẹp
ở phần ống lăng trụ ba mặt. V́
vậy, ở dưới phần lăng trụ
ấy, người ta gắn thêm một đoạn
ống trụ tṛn nhỏ và làm chỗ thắt
ở đó.
Thủy ngân được dùng trong nhiệt
kế phải hết sức tinh khiết, v́
những tạp chất dù rất ít cũng có
thể làm cho độ chỉ bị sai lệch
đáng kể. Chính v́ vậy nên thủy ngân
phải được lọc rửa, chưng
cất, sau đó mới được nạp vào
ống mao dẫn bằng thủy tinh.
Nhân đây xin nói thêm, thủy tinh tuy gịn nhưng
cho đến nay nó vẫn là vật liệu mà không
thứ ǵ thay thế được trong trường
hợp này. Giả sử ta dùng chất dẻo
trong suốt làm vật liệu chứa thủy ngân
cũng không được, v́ chất dẻo
giống như mặt sàng, oxi sẽ lọt vào và
làm hỏng thủy ngân.
Nạp thủy ngân vào ống mao dẫn là
một thao tác rất quan trọng, v́ không thể
để cho không khí lọt vào trong ống. Trước
đây, khi quá tŕnh này c̣n được thực
hiện bằng tay, người thợ phải
nung các ống đă nạp đầy thủy ngân,
lần lượt đầu nọ đến
đầu kia trong vài tuần lễ để xua
đuổi hết bọt khí ra ngoài. Hiện nay,
công việc đó được làm bằng máy
vừa nhanh lại vừa hiệu quả hơn.
Trước khi đưa vào sử dụng, các
nhiệt kế c̣n phải trải qua nhiều
cuộc thử nghiệm và kiểm tra. Than ôi,
lời buộc tội “phế phẩm” vẫn
chờ đợi một vài cái trong số đó.
Đường đời của những cái
nhiệt kế bất hạnh này đành phải
kết thúc ở đây - trong sọt đựng
phế phẩm. Nhưng thế là không c̣n
phải nghi ngờ ǵ tính chính xác của các
nhiệt kế đă vượt qua mọi
cuộc “sát hạch”, và được
nhận một loại bằng tốt nghiệp -
đó là nhăn hiệu xuất xưởng.
Giọt thủy ngân vô tư nằm trong ống
mao dẫn bằng thủy tinh sẽ phục
vụ khoa học, công nghiệp, nông nghiệp, y
học … một cách trung thành.
Với thiên lịch sử nhiều thế kỷ
của ḿnh, việc sản xuất thủy ngân
đă vượt qua một chặng đường
dài. Xưa kia, người ta nung quặng thủy
ngân trong chậu đất, c̣n hơi thủy ngân
bốc lên th́ được ngưng tụ trên
những lá cây tươi mới chặt, đặt
cạnh chậu, trong buồng xây bằng gạch.
Ngày nay, tại các nhà máy các thiết bị
tự động làm việc liên tục để
tinh luyện thủy ngân. Người thợ
chỉ cần ấn nút điều khiển
từ xa, thế là hàng tấn tinh quặng
thủy ngân chất đầy các phễu
tiếp liệu của một ḷ điện
lớn. Trong ḷ, với nhiệt độ hàng trăm
độ, thủy ngân bốc hơi khỏi tinh
quặng. Sau đó, hơi thủy ngân được
ngưng tụ, tạo thành thủy ngân lỏng
rồi chảy vào bể chứa.
Tiếp theo, thủy ngân được làm
sạch hẳn, rồi được rót vào
những b́nh bằng thép, mỗi b́nh đựng
được 35 kilôgam. Nếu là loại
thủy ngân đặc biệt tinh khiết (đă
qua khâu tinh luyện) có chất lượng cao th́
được rót vào các b́nh đựng bằng
sứ, mỗi b́nh chứa được 5 kilôgam.
Nó được đưa vào kho thành phẩm
ở dạng như vậy.
Từ đây “nước bạc” nhận
giấy thông hành vào đời.
|
|
 
|
|