Ag - Kim loại của mặt Trăng

Kể chuyện về Kim Loại
 

Alecxanđre xứ Makeđonia phải lui quân - Những chiến binh linh thiêng của vua Kyros - Bịt móng là bằng bạc - Nghề cổ xưa thứ hai - Những vẻ mặt uy nghiêm - Truyền thuyết kể lại - Tiền chuộc mạng công tước Igor - Kho tiền trong hố rác.


Thắng hết trận này đến trận khác, quân của Alecxanđre xứ Makeđonia ào ạt tiến về phía đông. Ba Tư rồi Phenicia, Ai Cập rồi Babilon, Bactria rồi Sogdiana lần lượt bị chinh phục. Năm 327 trước công nguyên, quân Hy Lạp tràn đến biên giới Ấn Độ. Tưởng như không có sức mạnh nào chặn được đạo quân thiện chiến của vị tướng lừng danh đó. Nhưng bỗng nhiên, quân Hy Lạp bắt đầu mắc bệnh nặng hàng loạt về đường tiêu hóa. Những người lính gầy c̣m và kiệt sức đă nổi loạn, đ̣i trở về quê hương. Mặc dầu sự khát khao những chiến công mới đang lôi cuốn nhà vua, ông vẫn buộc ḷng phải lui quân.

Nhưng có một điều đáng chú ư: so với binh lính th́ các tướng lĩnh Hy Lạp bị bệnh ít hơn nhiều mặc dầu họ đă chia xẻ với tướng sĩ những nỗi gian lao vất vả của cuộc đời chinh chiến.

Các nhà bác học phải mất hơn hai ngàn năm mới t́m được nguyên nhân của hiện tượng bí ẩn đó: thực chất là các binh lính của quân đội Hy Lạp thời ấy giờ đă uống nước đựng trong cốc bằng thiếc, c̣n các tướng lĩnh th́ dùng cốc bằng bạc. Mà bạc th́ có một tính chất kỳ diệu: khi ḥa tan trong nước, nó giết chết các vi khuẩn gây bệnh có mặt trong đó, thêm vào đó, để khử trùng cho một lít nước chỉ cần vài phần tỷ gam bạc là đủ. Chính v́ vậy, nhóm người có vai vế trong quân đội vốn dùng cốc chén bằng bạc nên mức độ nhiễm bệnh ở họ ít hơn hẳn so với ở những người lính b́nh thường.

Nhà viết sử thời cổ Herođot kể rằng, ngay từ thế kỷ VI trước công nguyên, trong thời gian tiến hành rất nhiều các cuộc chính chiến, vua Ba Tư là Kyros đă chứa nước uống trong những b́nh “linh thiêng” bằng bạc. Trong các sách tôn giáo Ấn Độ cũng gặp những đoạn nói rằng, người ta dùng thỏi bạc nung đỏ nhúng vào nước để khử trùng cho nước. Tại nhiều nước đă có tục lệ ném xuống giếng vài đồng tiền bạc để “cúng giếng”.

Có lẽ ta có thể coi tác dụng làm sạch nước của bạc là nghề nghiệp cổ xưa nhất của kim loại này, mà ngay cả hiện nay nó cũng không từ giă nghề ấy: các ion bạc giúp cho việc bảo quản nước uống dự trữ cho các nhà du hành vũ trụ trên trạm quỹ đạo “Chào mừng”.

Đôi khi, do tính ngang tàng của một số nhân vật quyền quư mà bạc đành phải làm những việc hoàn toàn vô nghĩa. Chẳng hạn, hoàng đế La Mă Nêrong vốn nổi tiếng về thói hoang phí đă không t́m được việc ǵ hay ho hơn là việc đóng móng bạc cho hàng ngàn con la của ḿnh. Nhưng đó cũng chỉ là một t́nh tiết nhỏ mọn trong tiểu sử của kim loại này. Nghề nghiệp cổ xưa thứ hai của bạc - nghề mà bạc đă hiến dâng trọn đời ḿnh, là nghề làm thước đo giá trị, nghĩa là tiền.

Những đồng tiền bằng bạc đầu tiên đă xuất hiện vài thế kỷ trước công nguyên. Plini Bố cho biết, ở La Mă cổ đại, vào năm 269 trước công nguyên, người ta đă đúc những đồng tiền bằng bạc - đó là các đồng denarius. Từ giữa thế kỷ I trước công nguyên, trên các đồng tiền này thường có h́nh của các hoàng đế. Julius Cesar là vị hoàng đế đầu tiên được hưởng vinh dự đó. Ngay cả hoàng đế Quintillus tuy chỉ giữ được chức vị cao cả này mười bảy ngày vào năm 270 cũng đă kịp để lại cho đời sau những đồng tiền bằng bạc có mặt uy nghiêm của ḿnh.

Dần dần, chủ đề trên các đồng tiền được phát hành ở các nước càng trở nên đa dạng hơn và đôi khi rất kỳ quặc. Chẳng hạn, năm 1528, ở xứ Bôhemi đă lưu hành những đồng tiền bằng bạc, trên đó in h́nh một người rừng, một tay cầm cây chùy, một tay cầm ngọn nến. V́ những công trạng ǵ mà con người hoang dă này đă nhảy được vào đồng tiền bằng bạc?

Theo truyền thuyết kể lại th́ một người hoang dă ở miền rừng núi Bohemi biết nhiều người đi t́m bạc nên đă đến gặp những người đó, thắp một ngọn nến và gọi họ đi theo ḿnh. Mọi người đi theo người rừng này một hồi lâu, rồi bỗng nhiên, ngọn nến tắt phụt và chính người rừng biến mất. Tại nơi xảy ra sự việc này, người ta đă t́m thấy một mỏ rất nhiều bạc.

Ở nước Nga, những đồng tiền bằng bạc do chính người Nga làm ra đă xuất hiện vào khoảng thế kỷ IX - X. Hiện nay c̣n giữ lại được những đồng tiền bằng bạc của công tước nước Nga là Vlađimia. Trên một mặt, có h́nh công tước ngồi trên “ngai” (là một cái bàn), c̣n trên mặt kia th́ có h́nh gia huy của công tước. Trên đồng tiền có đề hàng chữ: “Vlađimia ngự trên ngai, c̣n đây là bạc của ngài”.

Hồi thế kỷ XII - XIII, tiền bằng bạc không lưu hành ở nước Nga nữa. Thời bấy giờ, các vùng đất đai từng hợp nhất lại thành nước Nga Kiep bị phân chia thành các công quốc riêng biệt, nên không có đồng tiền thống nhất cho cả nước nữa. Các nhà sử học đă gọi thời gian này là thời kỳ không có tiền tệ. Những thỏi bạc gọi là gripna, nặng chừng 200 gam lại bắt đầu được dùng làm tiền tệ. Sức mua của đơn vị tiền tệ này rất cao: một gripna có thể mua được 200 bộ lông sóc. Một nhà viết sử thời xưa chép rằng, phải mất hai ngàn gripna bằng bạc mới chuộc được mạng của công tước Igor - người đă bị dân Polovet bắt giữ vào năm 1185.

Đồng gripna nặng tŕnh trịch không phải lúc nào cũng thuận tiện cho việc chi tiêu, bởi v́ không phải chỉ cần để chuộc mạng các vị công tước, mà c̣n cần để thực hiện các giao dịch buôn bán và tài chính ít quan trọng hơn. Vậy là cần phải có những đồng tiền nhỏ hơn: người ta chặt đồng gripna ra làm đôi. Từ đó mà có những đồng rúp (Trong tiếng Nga, “rubit” nghĩa là “chặt”, v́ vậy mà xuất hiện chữ “rubi” để chỉ đơn vị tiền tệ (N. D.).).

Ách thống trị của người Mông Cổ - Tacta đă ḱm hăm sự khôi phục việc đúc tiền ở nước Nga. Đồng tiền “dirgema” hoặc “denga” (theo tiếng Tacta, “denga” nghĩa là “kêu leng keng”) do Lũ Rợ Vàng (Trong ngôn ngữ châu Âu, quân viễn chinh của người Mông Cổ - Tacta hồi thế kỷ XII được gọi là “Lũ Rợ Vàng”: golden Horde) tung ra đă một thời lưu hành ở Nga. Dần dần từ “denga” chuyển thành “dengi” (nghĩa là “tiền” trong tiếng Nga).

Măi đến giữa thế kỷ XIV, khi nhân dân Nga đă làm suy yếu ách thống trị Mông Cổ - Tacta, ở Nga lại bắt đầu có tiền riêng. Năm 1534, trong thời gian trị v́ của Elena Glinxkaia (mẹ của Ivan Hung bạo), hệ thống tiền tệ thống nhất cho toàn quốc gia Nga đă h́nh thành. Trên đồng tiền nhỏ bằng bạc có h́nh một kỹ sĩ cầm gươm; đồng tiền này được gọi là “tiền có gươm”. C̣n trên những đồng tiền cũng bằng bạc nhưng hơi lớn hơn th́ có h́nh một kỵ sĩ cầm ngọn giáo. Những đồng tiền như vậy được gọi là “tiền có giáo” - từ đấy phát sinh ra từ “côpech” (v́ trong tiếng Nga, “kopio” nghĩa là “ngọn giáo”).

Hiện nay, thật khó mà truy t́m đến ngọn nguồn, nhưng hẳn là những kẻ làm tiền giả đầu tiên đă xuất hiện ngay từ khi những đồng tiền đầu tiên mới ra đời. Khi khai quật một thôn xóm của người Viking (một bộ tộc ở bắc Âu chuyên nghề buôn bán và cướp bóc ở các vùng ven biển châu Âu từ cuối thế kỷ VIII đến giữa thế kỷ XI - N. D.), các nhà khảo cổ học người Anh đă t́m thấy một đồng tiền Ảrập kỳ lạ, từng được phát hành trước đó một ngàn năm. Trong danh mục các hiện vật t́m được, đồng tiền này được ghi nhận là bằng bạc, nhưng chẳng bao lâu sau đă phải đính chính lại, v́ phép phân tích bằng tia rơngen đă cho biết rằng, đồng tiền “bằng bạc” này đă được làm bằng đồng và chỉ được bọc một lớp bạc mà thôi. Cần phải đánh giá đúng tài nghệ của kẻ làm tiền giả thời xưa: chất lượng sản phẩm do y làm ra rất cao. Không phải nghi ngờ ǵ nữa, những người cùng thời với y không có phương tiện phân tích chính xác nên đă coi những đồng tiền giả được làm rất khéo này là tiền thật.

Một vật tương tự khác do các nhà khảo cổ học t́m thấy trong các cuộc khai quật ở gần Tasken cũng rất đáng chú ư: tại một hố rác của một di chỉ thành phố trung cổ có một “kho tiền” gồm mười sáu đồng “dirgema” bằng bạc từng được phát hành hồi đầu thế kỷ XI tại quốc gia Carakhanit. Sau khi lau sạch những đồng tiền đó th́ mới vỡ lẽ ra: chúng đều được làm bằng đồng và chỉ được “xoa phấn” bạc mà thôi. Nhưng theo các nhà sử học th́ triều đại cầm quyền thời bấy giờ chỉ đúc tiền bằng bạc nguyên chất. Các nhà chuyên môn đă đi đến kết luận rằng, đó là những đồng tiền giả. C̣n điều này vẫn chưa rơ: vậy chúng đă rơi vào hố rác bằng cách nào? Có lẽ do nhà cầm quyền đă biết về việc làm ăn phi pháp này, nên để “phi tang”, kẻ làm tiền giả đă tạm cất giấu những đồng tiền trong hố rác nhà ḿnh. Thế rồi chúng đă nằm luôn ở đấy ngót cả ngàn năm.


Sự tinh khôn của bọn quư tộc Nga - Phó tổng đốc nhận mệnh lệnh - Bí mật của ngọn tháp ở Nevianxcơ - Bạc gia truyền - Bộ đồ ăn uống của bá tước Orlop - Cuộc cướp bóc không thành công - Để ghi nhớ một điều tốt lành.

Đến thế kỷ XVII, việc làm tiền giả đă được thực hiện trên quy mô nhà nước. Năm 1654 đă qua. Cuộc chiến tranh quá sức mà nước Nga đă dấy lên với Ba Lan làm cho ngân khố trống rỗng, trong khi nhu cầu về tiền ngày càng tăng thêm. Sa hoàng Alecxây Mikhailovich đă tăng các thứ thuế má rất nặng nề, nhưng nhân dân đă lâm vào cảnh bần cùng nên không thể nộp đủ. Lúc bấy giờ, quan cận thần Feđor Rtisep đă nghĩ ra một cách mà y tưởng là có thể làm giàu cho ngân khố, nhưng thật ra th́ đă dẫn đến những hậu quả tệ hại nhất.

Thời bấy giờ, tiền bằng bạc vẫn lưu hành ở nước Nga. Nhưng v́ nước Nga không có bạc nên đành phải sản xuất tiền bằng ... tiền nước ngoài. Thông thường để làm việc đó, triều đ́nh đă dùng những đồng tiền tây Âu staler đúc ở Iakhimop (thuộc vùng Czech ngay, nước Tiệp Khắc ngày nay) hoặc c̣n gọi là đồng “efimok”, rồi xóa chữ La tinh trên đó và điền chữ Nga vào.

Theo lời khuyên của Rtisep và của các nhà quư tộc khác, nhà vua đă kiếm lời bằng cách sửa lại giá trị của đồng tiền. Đối với ngân khố, đồng “efimok” trị giá 50 côpech (nửa rúp), vậy mà nhà vua đă ra lệnh dập vào đó con dấu một rúp. Ngoài ra, nhà vua c̣n ra lệnh cho lưu hành những đồng tiền nhỏ hơn, đúc bằng thứ đồng rẻ tiền và bắt dân phải coi chúng có giá trị như bạc. Theo dự tính của các nhà tài chính trong triều đ́nh th́ cuộc cải cách này sẽ đem lại cho ngân khố 4 triệu rúp - cao gấp vài lần tiền thu mọi thứ thuế trong một năm! Đầu óc nhà vua quay cuồng v́ những món tiền lớn như thế, nên ông ta đă ra lệnh làm thêm thật nhiều tiền mới, “gấp rút ngày đêm, dốc hết sức lực để nhanh chóng làm ra nhiều tiền”.

Những đồng tiền rẻ mạt đă tràn ngập nước Nga. Nhưng sự lưu thông tiền tệ vẫn có những quy luật của nó mà không phụ thuộc vào quyền lực của ai, dù là của vua chúa cũng vậy. Nếu phát hành nhiều tiền hơn mức đă ấn định th́ sức mua của đồng tiền sẽ giảm sút, từ đó giá cả mọi hàng hóa đều tăng lên. Điều đó cũng đă xảy ra ở nước Nga. Người dân b́nh thường rất nhảy cảm với những hậu quả của cuộc cải cách do nhà vua đề ra. Giá bánh mỳ và các thực phẩm khác tăng vọt, thêm vào đó, các nhà buôn chỉ đ̣i đổi hàng hóa lấy bạc chứ không muốn lấy tiền. Nhưng lấy đâu ra bạc bây giờ khi mà bạc đă bị vơ vét hết về kho của nhà vua? Nạn đói nổi lên trong nước. Sức chịu đựng của người dân đă đến mức tột cùng. Thế là, vào năm 1662, ở Matxcơva đă nổ ra một cuộc khởi nghĩa - đó là “cuộc nổi loạn v́ đồng”. Cuộc khởi nghĩa này đă bị nhà vua đàn áp khốc liệt, nhưng dù sao dân chúng vẫn đạt được nguyện vọng của ḿnh: tiền đồng đă bị thu hồi và được thay thế bằng tiền bạc như cũ.

Trong thời gian trị v́ của Piôt đệ nhất, việc đúc tiền được tập trung tại xưởng đúc tiền Matxcơva nằm ở quận có tên gọi là “thành phố Trung Quốc”. Năm 1711, nghị viện đă “tuyên cáo: chỉ đúc tiền bằng bạc ở một xưởng đúc tiền ở thành phố Trung Quốc”. Về sau, theo chỉ dụ của Sa hoàng, một xưởng đúc tiền khác đă được thành lập ở Petecbua vào năm 1724. Xí nghiệp này - xưởng đúc tiền ở Lêningrat - hiện vẫn hoạt động và gần đây đă kỷ niệm 250 năm ngày thành lập.

Piôt đệ nhất đă sử dụng những biện pháp tích cực để mở rộng việc khai thác vàng và bạc. Mặc dầu nhà vua đă đạt được một số kết quả, song các kim loại quư này vẫn phải mua ở nước ngoài một thời gian dài nữa. Hiện c̣n giữ được những tài liệu rất đáng chú ư nói lên điều đó. Chẳng hạn, năm 1734, triều đ́nh đă giao cho phó tổng đốc tỉnh Ircutxcơ mua một lượng bạc lớn của Trung Quốc.

Cũng khoảng trong thời gian đó, những người sành sỏi về quặng trong gia đ́nh Akinfi Đemiđop - đại biểu cho triều đại hùng cường của các chủ mỏ ở Uran, đă phát hiện được một số mỏ bạc. Theo luật lệ nhà nước hiện hành lúc bấy giờ th́ quặng bạc dù do ai t́m được ở bất cứ đâu cũng đều phải dung vào tài sản của triều đ́nh. Nhưng Đemiđop lại không muốn từ bỏ những của cải mới lọt được vào tay ḿnh. Ông ta bắt đầu đúc tiền riêng của ḿnh, chẳng hề khác tiền của nhà vua một tí nào. Tuy nhiên, vẫn có một sự khác biệt: tiền của Đemiđop chứa nhiều bạc hơn tiền của nhà vua. Có lẽ đây là trường hợp duy nhất trong lịch sử mà tiền giả lại quư hơn tiền thật.

Nếu có thể tin vào truyền thuyết th́ ở Nevianxcơ - lănh địa của gia đ́nh Đemiđop, có một xưởng đúc tiền bí mật. Trong tầng hầm của một ngọn tháp cao ở đây, những người nô lệ bị xiềng vào tường phải làm tiền giả suốt ngày đêm. Đó là một nhà tù khủng khiếp mà không ai có thể thoát ra khỏi, nên triều đ́nh không thể biết được bí mật của ngọn tháp ở Nevianxcơ. Mặc dầu vậy, những tin đồn về ngọn tháp vẫn lọt đến kinh đô. Ban đầu, đó là những lời đồn đoán, và chính nữ hoàng Anna Ivanopna cũng không dại ǵ làm tổn hại những mối quan hệ với ông vua chưa thụ phong của xứ Uran này. Thật vậy, người ta kể rằng, một hôm, khi đánh bài với Đemiđop, nữ hoàng thắng cuộc và khi nhận một đồng bạc mới tinh từ tay ông ta, nữ hoàng đă bất ngờ hỏi: “ Đây là tiền do ta làm ra hay là do ngươi hả Nikitich ?” Đemiđop liền đứng dậy, buông thơng hai tay, cúi đầu và mỉm cười, thưa: “Tất cả chúng tôi đều là của bệ hạ, cả tôi nữa cũng là của ngài, mọi thứ của tôi nữa cũng đều là của ngài !”

Nhưng chẳng bao lâu sau đă xảy ra một sự kiện dẫn đến sự kết liễu cái xưởng đúc tiền bí mật này. V́ sợ cơn thịnh nộ của chủ, một người thợ trong xưởng của Đemiđop đă chạy trốn từ Nevianxcơ về Petecbua. Vừa biết được việc này, Đemiđop liền phái ngay một toán quân truy đuổi sau khi ra lệnh phải bắt kỳ được và giết chết tên đào tẩu, c̣n nếu không làm được như thế th́ phải cấp tốc phi về thủ đô để báo cho nữ hoàng biết “tin mừng” về việc t́m ra mỏ bạc.

Người đào tẩu đă không bị bắt, thế là đành phải báo “tin mừng”. Một ủy ban đă được cử đến Nevianxcơ để tiếp nhận mỏ bạc. Hai ngày trước khi ủy ban này đến, Akinfi đă ra lệnh mở các cửa cống ngăn tầng hầm của tháp với hồ nước, thế là tất cả những người thợ ở đây - những nhân chứng về vụ phạm tội của Đemiđop - đă vĩnh viễn ở lại dưới nước.

Từ thời xa xưa, bạc đă được sử dụng làm đồ trang sức: những bộ đồ để ăn uống, cốc chén, hộp phấn sáp, hộp thuốc lá và những đồ dùng xa xỉ khác đă được làm bằng bạc. Giới quư tộc Nga và Pháp rất ưu chuộng những vật phẩm làm bằng kim loại này. Đối với họ, đồ bằng bạc “gia truyền” có ư nghĩa như tấm danh thiếp chứng tỏ nguồn gốc quyền quư và sự giàu sang của người chủ. Bá tước Orlop là chủ của một bộ đồ bằng bạc mà ngoài ông ta th́ chẳng ai có: bộ đồ này gồm 3275 thứ; để làm ra chúng, phải tốn gần hai tấn bạc nguyên chất!

Những người thợ làm đồ bằng bạc ở Nopgorot đă nổi tiếng từ thời xưa; những người này đă từng lập nên một trường phái về nghề chạm và khắc trên bạc mà không ở đâu bắt chước được. Cốc, tách, chén do họ làm ra đă khiến người đương thời phải khâm phục trước vẻ đẹp của các đường vân hoa. Đă t́m thấy những cứ liệu chứng tỏ rằng, cuối thế kỷ XVI, có khoảng một trăm thợ bạc lành nghề cỡ lớn đă làm việc ở Nopgorot, c̣n thợ làm đồ lặt vặt như hoa tai, thánh giá, nhẫn th́ nhan nhản. Những sản phẩm bằng bạc của các nghệ nhân Nopgorot c̣n lại đến ngày nay đều được trưng bày tại gian vũ khí, tại bào tàng lịch sử quốc gia và bảo tàng Nga ở Lêningrat.

Bộ đèn chùm đồ sộ của nhà thờ lớn Uxpenxki - một trong những di tích kiến trúc tuyệt với nằm trên địa phận điện Creli ở Maxcơva, được làm bằng bạc nguyên chất. Nguồn gốc của nó khá ly kỳ. Trong thời gian chiến tranh năm 1812, thứ kim loại quư báu này đă bị binh lính Pháp cướp bóc, nhưng do “những trục trặc kỹ thuật” nên không thể chở ra khỏi nước Nga được. Người Nga đă lấy lại bạc từ tay kẻ thù, và để ghi nhớ việc đánh bại quân đội Napolêon, các nghệ nhân Nga tài hoa đă làm ra bộ đèn chùm có một không hai này gồm vài trăm chi tiết mỹ thuật.



Làm suy yếu cơn băo - Ba kỷ lục - Ánh gương - Hai chiếc th́a bằng bạc - Không thể mảnh hơn - Mang dấu hiệu mặt trăng.

Trong thời đại chúng ta, bạc không làm mất đi vai tṛ của thứ kim loại tô điểm cho cuộc sống của con người, nhưng hiện nay, có lẽ bạc c̣n có nhiều việc quan trọng và lư thú hơn. Từ năm 1839, khi mà họa sĩ kiêm nhà phát minh người Pháp là Đagar (Louis Jacques Mandez Daguerre) hoàn thiện được phương pháp ghi lại h́nh ảnh trên các vật liệu cảm quang, th́ bạc gắn bó mật thiết số phận của ḿnh với kỹ thuật chụp ảnh. Một lớp bạc bromua cực mỏng tráng lên màng phim hoặc giấy ảnh là “nhân vật hành động” chủ yếu trong quá tŕnh này. Dưới tác động của ánh sáng chiếu vào màng phim, bạc bromua bị phân giải. Khi đó, brom sẽ liên kết hóa học với gelatin có sẵn trong lớp này, c̣n bạc th́ được tách ra dưới dạng những tinh thể vô cùng nhỏ mà ngay cả kính hiển vi thông thường cũng không nh́n thấy được. Mức độ phân giải của bạc bromua phụ thuộc vào cường độ chiếu sáng: được chiếu sáng càng mạnh th́ bạc tách ra càng nhiều. Việc xử lư tiếp theo (hiện h́nh và định h́nh) cho phép thu nhận được bản âm trên màng phim, sau đó, khi in lên giấy ảnh th́ bản âm trở thành h́nh ảnh thật. Mặc dầu kỹ thuật chụp ảnh đă được hoàn thiện nhiều qua lịch sử tồn tại hơn một thế kỷ, nhưng nếu không có bạc và hợp chất của bạc th́ nó chẳng có ư nghĩa thực tế nào cả.

Các nhà bác học đă t́m cho bạc iođua một công việc lư thú và bổ ích: họ đă sử dụng nó để chống lại các trận băo nhiệt đới một cách khá hiệu quả. Nhưng làm cách nào vậy? Để giảm bớt sức phá hoại của băo, cần phải “kéo giăn” nó ra, nghĩa là phải nới rộng đường kính của nó. Bạc iođua sẽ giúp chúng ta làm được điều đó: nó có khả năng làm cho khí ẩm ngưng tụ lại thành mưa. Người ta đă tiến hành những thí nghiệm như vậy. Trong những năm 60, cơn băo “Beila” đă là “nạn nhân” đầu tiên. Người ta cho máy bay thả lơ lửng xuống một “bức màn” bạc iođua có chiều cao 10 kilômet và chiều dài 30 kilômet trên đường đi của băo. Mặc dầu “bức màn” có kích thước đồ sộ như vậy nhưng chỉ cần vài tạ bạc iođua là đủ làm ra nó. Sau khi đụng phải “bức màn”, cơn băo “không nghi ngờ” điều gi nên đă cuộn nó lại thành một “cái ống” và nuốt vào tâm băo. Chính lúc đó, bức tường mây xung quanh phần trung tâm của băo tan ra, đổ mưa xuống và tốc độ cơn băo liền giảm xuống đột ngột. Sự thực th́ băo không “mất đi”, mà sẽ tạo lại thành một bức tường mây nhưng có kích thước lớn hơn trước rất nhiều, nghĩa là bức tường mây này sẽ dịch chuyển chậm hơn hẳn so với trước kia. Sức phá hoại của cơn băo “nhuốm bạc” sẽ giảm hơn trước rất nhiều lần.

Mặc dầu hoạt động của các hợp chất bạc rất hấp dẫn, song những tính chất vật lư và ứng dụng kỹ thuật của chính kim loại này có lẽ c̣n có sức hấp dẫn hơn. Nguyên do là trong số các kim loại, bạc cùng một lúc giữ luôn ba kỷ lục về ba chỉ tiêu: khả năng phản xạ ánh sáng, độ dẫn điện và độ dẫn nhiệt. Nhờ tính chất thứ nhất trong số ba tính chất này mà từ giữa thế kỷ trước cho đến ngày nay, bạc được sử dụng vào việc sản xuất gương. Tấm kính được tráng một lớp bạc cực kỳ mỏng chẳng những được dùng làm chiếc gương thường ngày không thể thiếu được trong các gia đ́nh chúng ta, mà c̣n là công cụ của các thầy thuốc, là chi tiết quan trọng trong kính hiển vi, kính viễn vọng và trong các khí cụ quang học khác.

“Kỹ năng” dẫn điện và dẫn nhiệt tuyệt vời của bạc đă làm cho nó trở thành thứ vật liệu không thể thay thế được trong nhiều thiết bị kỹ thuật điện và vô tuyến điện. Có thể gặp sợi dây dẫn điện bằng bạc trong các khí cụ vật lư chính xác nhất. Bạc được dùng làm vật liệu cho các đầu cực điện của các rơle rất nhạy; các linh kiện quan trọng trong các khí cụ khác nhau cũng được nối với nhau bởi que hàn bằng bạc. Những người thợ giỏi thời cổ đă biết sử dụng bạc vào mục đích này: trong ngôi mộ của Tutankhamon (Faraoh Ai Cập thuộc triều đại thứ 18, trị v́ từ năm 1400 đến năm 1392 trước công nguyên. Ngôi mộ này được khai quật năm 1922 (N. D.).), người ta đă t́m thấy những cái ống bằng đồng gồm các đoạn được hàn nối với nhau bằng bạc.

Để nhấn mạnh vai tṛ của bạc với tư cách là một thứ vật liệu dùng để hàn nối các chi tiết quan trọng, chúng tôi xin kể một sự việc liên quan với những bước đi ban đầu của ngành chế tạo tên lửa ở Liên Xô. Trong những năm đó, nhóm nghiên cứu chuyển động phản lực được giao nhiệm vụ giải quyết những vấn đề trong lĩnh vực này. Đứng đầu nhóm là kỹ sư trẻ tuổi X. P. Corolep mà lúc bấy giờ chưa mấy ai biết đến. V́ lúc đầu, những người làm việc ở đây là do nhiệt t́nh, giống như trong các đoàn thể xă hội, nên khi nói đùa, họ đă “giải mă” tên gọi của “hăng” ḿnh thành ra “nhóm kỹ sư làm việc vô ích”. Bà M. N. Balanina Corolep - mẹ của vị viện sĩ tương lai, nhớ lại rằng, một hôm, khi về đến nhà, con trai bà hỏi: “Mẹ ơi, nhà ta có cái ǵ bằng bạc không hở mẹ?”. Bà Maria Nikolaepna rất ngạc nhiên về câu hỏi đó, bởi v́ bà biết rằng, Xecgây hoàn toàn thờ ơ với tiền bạc cũng như đối với các vật quư. “Để làm ǵ vậy hở con ?” - “Mẹ hiểu cho có một công việc như thế này. .. Cần phải hàn động cơ phản lực. Nhưng chỉ hàn được bằng bạc mà thôi”.

Bà Maria Nikolaepna đi ra khỏi pḥng, rồi một lát sau bà quay lại với hai chiếc th́a bằng bạc. “Đây, bạc trong nhà ta chỉ có thế” - nói rồi, bà đưa hai chiếc th́a cho con. Chiếc hôn nồng thắm từ đáy ḷng của cậu con trai đă là phần thưởng cho người mẹ.

Trong rất nhiều các thiết bị tự động, tên lửa vũ trụ và tàu ngầm, trong các máy tính và thiết bị hạt nhân, trong các phương tiện liên lạc và phát tín hiệu, bao giờ cũng có những tiếp điểm. Suốt trong thời gian phục vụ lâu dài, mỗi tiếp điểm phải làm việc đến hàng triệu lần. Để gánh vác được nhiệm vụ nặng nề như vậy, các tiếp điểm phải chống được sự mài ṃn, phải đủ độ tin cậy trong sử dụng, phải đáp ứng được hàng loạt yêu cầu về kỹ thuật điện. Bạc thường được dùng làm vật liệu cho các tiếp điểm. Các nhà chuyên môn không phải than phiền ǵ về nó, v́ bạc đảm đương vai tṛ này một cách xuất sắc. Nếu được pha thêm các nguyên tố đất hiếm th́ bạc sẽ thể hiện những phẩm chất vô cùng cao quư, tuổi thọ của các tiếp điểm như vậy sẽ tăng lên vài lần.

Bạc c̣n có một đặc điểm nữa là nó có tính dẻo thật đáng kinh ngạc: có thể cán bạc ra thành lá trong suốt có chiều dày chỉ bằng một phần tư micron (tức là bằng 0,00025 milimet), c̣n một hạt bạc nặng một gam th́ có thể kéo thành một sợi “tơ nhện” rất mảnh có chiều dài đến hai kilômet!

Bạc nguyên chất là một kim loại màu trắng rất đẹp. Bởi vậy, trong một tác phẩm của ḿnh, M. V. Lơmanôxop đă viết : “Bạc được coi là kim loại cao quư thứ hai. Nó chỉ khác vàng ở màu sắc và sức nặng. Màu của nó trắng đến nỗi, nếu là bạc hoàn toàn nguyên chất và được rót ra ngay sau khi vừa nấu chảy mà chưa cần đánh bóng, th́ từ xa đă nhận thấy nó trắng như phấn”.

Nhờ có ánh kim sáng ngời nên người Assyria cổ xưa đă gọi bạc là kim loại của mặt trăng và coi là thứ kim loại linh thiêng, cũng như người Ai Cập đă tôn thờ vàng là kim loại màu vàng của mặt trời. Trong các sách về giả kim thuật, bạc được tượng trưng bằng một vầng trăng non. Tên La tinh của kim loại này là “argentum” bắt nguồn ở một từ vay mượn của tiếng Phạn, có nghĩa là “trắng sáng”.


Lịch sử với môn địa lư - Nữ hoàng ban ơn cho tên cướp biển - Cuộc truy hoan thâu đêm - Dưới đáy biển - Fip thu hoạch “mùa màng” - Vật do người thợ lặn t́m được - Cá heo giúp được ǵ? - Giấc mơ trở thành sự thật.

Bởi v́ đây đang nói đến tên gọi nên chúng tôi xin kể thêm một sự việc không kém phần thú vị. Bản đồ địa lư đă nhiều lần gợi ư cho các nhà bác học khi chọn tên các nguyên tố mới được phát hiện. Hăy nh́n vào bảng hệ thống tuần hoàn, tên các nguyên tố gecmani và franxi, europi và amerixi, scanđi và calofoni sẵn sàng xác nhận với bạn điều đó. Có rất nhiều thí dụ như vậy, c̣n trường hợp một con sông lớn, thậm chí, cả một quốc gia đă mang một cái tên để ghi nhớ kim loại th́ có lẽ trường hợp duy nhất. Th́ ra bạc là kim loại được vinh dự đi vào môn “lịch sử cùng với môn địa lư”. Điều đó đă xảy ra từ bốn thế kỷ rưỡi trước đây trong bối cảnh như sau.

Đầu thế kỷ XVI, nhà hàng hải người Tây Ban Nha Hoan Điat đơ Xolit (Juan Diaz de Soliz) khi đi thuyền dọc theo bờ biển nam Mỹ đă phát hiện ra một cửa sông lớn, và không cần tỏ vẻ khiêm tốn giả tạo, ông đă gọi con sông đó bằng tên của chính ḿnh. Mười hai năm sau, thuyền trưởng Xebaxtian Cabot (Sebastian Cabot) đă ngược thuyền trên ḍng sông này. Ông ta kinh ngạc về số lượng bạc mà các thủy thủ của ông đă cướp của dân địa phương sinh sống trên hai bờ sông này. Cabot đă quyết đinh gọi con sông này là “La Plata”, nghĩa là “sông bạc” (theo tiếng Tây Ban Nha, “plata” nghĩa là bạc). Do đó mà về sau, tên ấy cũng được dùng để gọi đất nước này. Hồi đầu thế kỷ XIX, quyền bá chủ của Tây Ban Nha đă chấm dứt và để ghi nhớ thời kỳ đau buồn ấy, dân nước này đă La tinh hóa tên gọi của đất nước. Thế là trên bản đồ đă xuất hiện tên nước “Achentina”.

C̣n một truyền thuyết khác, trong đó, bạc cũng hiện h́nh với tư cách là “cha đỡ đầu” cho một địa danh.

Năm 1577, một đoàn hải thuyền do tên đô đốc “mới ra ḷ” tên là Franxit Đrây (Francis Drake) chỉ huy đă rời bờ biển nước Anh. Y đă được nữ hoàng Elizabet ban thưởng hàm hải quân rất cao nhờ hoạt động ... cướp biển trong nhiều năm. Cướp bóc các thành phố thuộc quyền Tây Ban Nha ở ven bờ biển Thái B́nh Dương ở nam Mỹ vẫn là mục đích của chuyến đi mới này với sự đồng t́nh bí mật của nữ hoàng. Vốn đă trở thành những “cổ động” hội cướp đoạt của quư “Đrây và công ty”, Elizabet và bọn cận thần quyền thế của bà đă tính chuyện kiếm chác nhờ sự giúp sức của “tên cướp biển sắt đá” này, mà tất cả những người đi biển của các nước đă biết quá rơ tên tuổi của hắn.

Suốt nhiều tháng ṛng ră, hải đội của Đrây đă “cày bừa” khắp các biển và đại dương, tự nguyện “lao động” v́ lợi ích của nữ hoàng. Qua rất nhiều cuộc tiến công và đánh chác, Đrây đă thiệt hại bốn trong số năm chiếc tàu, nhưng chiếc tàu chỉ huy “ Con Đama vàng” của y đă reo rắc sự khủng khiếp cho cư dân các thành phố ven biển bằng những cuộc tập kích táo tợn và bất ngờ. Một hôm, vào cuối buổi chiều, khi trời vừa sẩm tối, tên cướp biển đă xuất hiện gần Calao, nơi có gần ba chục chiếc tàu Tây Ban Nha đỗ trong bến cảng. Đrây vẫn rất can đảm: “ Con Đama vàng” đi vào bến tàu và đỗ sát nách các tàu đối phương trong suốt một đêm. Các thủy thủ Tây Ban Nha do uống rượu “rum” khá nhiều, nên đă quá nửa đêm từ lâu mà họ vẫn vui đùa trên boong tàu và bàn tán ầm ĩ về những chiếc tàu mà trước đó không lâu đă rời bến cảng với những chuyến hàng quư giá. Theo lời của các thủy thủ th́ một trong những chiếc tàu đó đă chất đầy của cải rất quư. Biết được điều này, Đrây lập tức nhổ neo và ra sức rượt theo.

Không phải ngẫu nhiên mà chiếc tàu của gă đô đốc cướp biển được mệnh danh là “Con Đama vàng”: hiếm có con tàu nào tranh tài được với nó về tốc độ. Cũng thật dễ hiểu, ngay sau đó th́ con tàu Tây Ban Nha đă bị tấn công ở bờ biển Ecuađo. Một trong những trợ thủ của Đrây đă mô tả những sự kiện tiếp theo như sau: “Sáng hôm sau, bắt đầu một cuộc lục soát và kiểm kê kéo dài sáu ngày ... Chúng tôi đă t́m thấy ở đây những thứ đá quư, mười ba chiếc ḥm đựng toàn tiền bừng bạc, tám chục cân vàng (ở đây là cân Anh - libra, bằng 453,59 gam - N. D.), hai mươi sáu thùng bạc chưa đúc... Cuối ngày thứ sáu, chúng tôi chia tay với người chủ chiếc tàu: ông ta cảm thấy hơi nhẹ nhơm và vội đi Panama, c̣n chúng tôi th́ lại ra biển khơi”

Đrây vốn là người nh́n xa trông rộng nên đă hiểu rằng, “ Con Đama vàng” c̣n phải bồng bềnh trên biển một thời gian dài, nên rất có thể, người Tây Ban Nha sẽ t́m cách lấy lại những của cải từng bị bọn cướp biển tước đoạt (những của cải mà chính họ đă vơ vét của dân bản xứ nam Mỹ), c̣n chiếc tàu chất đầy kim loại quư th́ không thể lướt nhanh được. Làm theo lẽ phải hay làm theo ḷng tham? Đrây đă chấp nhận một giải pháp đúng: hàng chục tấn bạc đă được đổ xuống biển. Để ghi nhớ những của cải quư mà ông ta đành phải từ bỏ, viên đô đốc kẻ cướp đă đặt tên cho ḥn đảo ở gần đấy là La Plata.

Dĩ nhiên, đây không phải là trường hợp duy nhất mà vàng, bạc và các của quư khác phải ch́m nghỉm dưới đáy biển. Trong lịch sử nhiều thế kỷ của ngành hàng hải, hàng ngàn chiếc tàu đă bị đắm v́ những nguyên nhân khác nhau khi chúng mang theo vô vàn tài sản quư. Từ lâu chính những con tàu đó đă khiến cho nhiều người muốn đi t́m báu vật không thể ngồi yên.

Uyliam Fip (William Fipps) - người đă được lịch sử ghi lại tên tuổi, là người đầu tiên ṃ được của cải dưới biển. Cuối thế kỷ XVII, theo lệnh của vua Anh James II, ông này đă trang bị cho một đoàn thám hiểm để xuống biển thu nhặt những vật quư cùng với một lượng bạc khổng lồ trên chiếc tàu Tây Ban Nha bị đắm ở độ sâu không lớn lắm gần quần đảo Bahama. Vốn làm nghề thợ mộc, Fip đă đóng một chiếc thùng gỗ nẹp đai sắt để làm cái “chuông lặn”. Trong bộ đồ lặn thô sơ này, ông đă nhiều lần tụt xuống đáy biển. Nhưng các thủy thủ và thổ dân làm thuê ngụp lặn từ sáng sớm đến chiều tối ở gần dải đá ngầm gần nơi con tàu yên nghỉ vẫn là lực lượng chủ yếu để ṃ của quư.

Công việc hao hơi tốn sức này đă kéo dài nhiều tuần lễ, cuối cùng, “vụ gặt hái” dưới biển đă “bội thu” như trong truyện cổ tích vậy. Sau khi tránh khỏi sự săn đuổi của bọn cướp biển một cách khôn khéo, Fip (ông ta đồng thời là một thủy thủ có tài) đă đưa được hai chiếc tàu dựng đầy ắp bạc về đến bờ biển nước Anh một cách an toàn.

Suốt ba thế kỷ qua, rất nhiều ư định chiếm hữu các kho tàng dưới biển đă được thực thi, nhưng đại dương lại không sẵn ḷng ban phát những của cải c̣n ch́m đắm dưới đáy. Thế kỷ XX đă tạo ra những khả năng mới cho những người t́m kiếm kho tàng dưới biển: người thợ lặn ngày nay có rất nhiều điều kiện thuận lợi để đạt kết quả, hơn hẳn những người ngụp lặn ngày xưa v́ bọn họ chỉ có thể trông cậy vào buồng phổi của ḿnh. Chẳng hạn, một người thợ lặn người Mỹ đă rất may mắn mặc dầu anh ta không nghĩ đến việc t́m kiếm của quư bị ch́m dưới biển. Mùa hè năm 1949, anh làm nghề chụp ảnh dưới nước ở vùng biển Floriđa. Một hôm, ở độ sâu hai chục mét, anh ta bắt gặp những mảnh vỡ của chiếc tàu nào đó. Sau khi xem xét chiếc tàu thật kỹ lưỡng, anh phát hiện ra mấy khẩu đại bác, một chiếc neo và ba phiến ǵ đó rất nặng h́nh thuôn dài. Anh đă không ngần ngại đưa chúng lên mặt nước và đă được ban thưởng rất hậu: ba phiến ấy là ba khối bạc nguyên chất c̣n mang nhăn rất dễ thấy. Các nhà chuyên môn đă xác định được rằng, đó là nhăn của một mỏ bạc xưa kia ở Panama, c̣n chiếc tàu ấy là một trong mười bốn chiếc tàu Tây Ban Nha bị đắm trong trận băo lốc khủng khiếp từng tàn phá vùng này vào mùa xuân năm 1715.

Tiến bộ kỹ thuật cũng không bỏ qua sự chú ư đối với những người đi t́m hạnh phúc dưới nước. Ngoài bộ đồ lặn ra c̣n có các từ kế, các que ḍ rất nhạy, các bộ đèn kín nước, những phụ kiện đặc biệt lắp vào chân vịt tàu thủy để xói rửa cát và bùn dưới đáy ... đă giúp sức thêm cho họ. Có tin nói rằng, một hăng nước ngoài đă mở khóa huấn luyện đặc biệt cho cá heo; loài cá biển này đă sử dụng “máy đo độ sâu bằng tiếng dội” của ḿnh để đưa người thợ lặn đến mục tiêu mong muốn. Nói tóm lại, hỡi đại dương, hăy cẩn thận! Nhưng đại dương vẫn chưa vội từ giă những của cải của ḿnh mà từ bao thế kỷ nay vẫn nằm yên dưới đáy.

Các kho bạc cũng rất hay gặp cả trên đất liền. Chẳng hạn, cách đây chưa lâu lắm, trên đảo Gotlan của Thụy Điển, người ta đă t́m thấy một kho tiền bằng bạc gồm hàng ngàn đồng tiền Ai Cập trong một trường hợp khá thú vị. Kẻ t́m thấy nó là một ... con thỏ - một con thỏ xám b́nh thường đang muốn đào cho ḿnh một cái hang ở gần thị trấn Burs. Trong tiến tŕnh “thi công xây dựng”, bỗng nhiên, một trận mưa đá ném xuống toàn những mảnh kim loại h́nh tṛn dội lên đầu con thỏ và con vật khốn khổ này đă phải đổ nhiều sức lực để ném chúng ta khỏi hang. Sau đó chẳng bao lâu, các nhà khảo cổ học đang khai quật trên đảo đă nh́n thấy chúng. Những đồng tiền đó đă được chuyển giao cho viện bảo tàng lịch sử ở Stockholm và các nhà chuyên môn đă khám phá được bí mật của kho tiền này.

Xưa kia, có một thời đảo Gotland là trung tâm buôn bán sầm uất vào bậc nhất ở châu Âu, là nơi mà nhà buôn từ nhiều nước thường lui tới. Hàng trăm hàng ngàn đồng tiền bằng bạc đă chuyển từ tay người này sang tay người khác, nhưng cũng có khi tích tụ lại trong tay những nhà buôn may mắn nhất. Thỉnh thoảng, những của cải này lại rơi vào tay bọn viking; bọn này thường hành quân lên đảo với những mục đích hoàn toàn không có ư thức. Theo truyền thuyết, kho tiền mà con thỏ t́m thấy là do một trong những kẻ cầm đầu bọn viking tên là Staver cất giấu trong ḷng đất từ thời xưa. Và đây là điều thú vị: trong suốt nhiều thập kỷ, trong dân chúng đă có lời đồn đại khẳng định rằng, h́nh như vào khoảng một thế kỷ rưỡi trước đó, một người nông dân ở Gotlan say rượu đă mơ thấy một con quỷ cho anh ra một nắm tiền bằng bạc chắc là lấy từ kho tiền của Staver và bí mật báo cho anh ta biết rằng, sau năm thế hệ nữa, mọi người sẽ t́m thấy cả kho tiền mà tên viking giàu có này đă cất giấu “để pḥng ngày mạt vận”                         

Trong truyền thuyết này có cơ sở thực tế nào hay không, điều đó thật khó nói. Nhưng dù thế nào chẳng nữa, quả là sau năm thế hệ, tại chính cái nơi được nói đến trong truyền thuyết, người ta đă t́m thấy kho tiền. Chỉ có một điều chưa rơ: tại sao con quỷ đă quyết định không cho người nông dân biết là con thỏ được vinh dự đóng vai tṛ chính trong việc t́m ra kho tiền này.